XỨ THANH – Ngô Hoài Chung.

XỨ THANH – SỐNG TRẢI VÀ SUY NGHIỆM

(Đọc Xứ Thanh của Ngô Hoài Chung)

 

Sự quan trọng của địa phương học vẫn được người ta thường xuyên nhấn mạnh ở lớp vỏ ngôn từ, trong các diễn văn, bài dẫn nhập quan phương liên quan đến sách vở sản xuất về các tri thức địa phương. Nhưng tiến thêm, ở chiều sâu tổng thể tri thức, địa phương học thực chất vẫn bị xếp ở vị trí ngoại biên, bên lề của nhận thức. Không có nhiều học giả có sự yêu thích đặc biệt và dành nhiều tình cảm cho địa phương học, và không có nhiều công trình tốt về địa phương được sản xuất. Mặc dù, những hiểu biết sâu xa và chi tiết về một địa phương bao giờ cũng là mắt xích đầu tiên để hiểu đúng các chuyện kể lớn về lịch sử, của vùng miền, dân tộc, quốc gia hay khu vực. Xem thường địa phương học, coi thường cái vi sử, các phiên bản kể lớn ở Việt Nam vì thế thường thiếu sự sinh động, cái từng trải về bản địa, do đó, các phiên bản kể lớn về lịch sử, văn hóa Việt Nam thường dễ bị xơ cứng, thậm chí, còn rơi vào nhiều nhầm lẫn đáng tiếc. Ở chiều ngược lại, các địa phương không ngừng dốc tiền của cho việc nghiên cứu địa phương, nhưng vì nhiều lý do, đặc biệt không xây dựng được một nền địa phương học đủ chiều sâu, sự sản xuất tri thức địa phương cuối cùng chỉ là vòng lặp luẩn quẩn những tri thức phổ thông. Sự hiểu biết về địa phương trong nghiên cứu Việt Nam để lại một khoảng trống nhiều thách thức.

Địa phương học không chỉ quan trọng như cách Le Breton vun bồi tình yêu, lòng tự hào địa phương cho con người của vùng đất ấy[1], giúp xây dựng con người hoàn thiện hơn. Địa phương học cần hiểu như là khớp nối đầu tiên trong nhận thức để hiểu biết các bản kể lớn về vùng miền, đất nước và cả khu vực. Nhìn lớn về một địa phương bằng cách đọc sâu vào các dữ kiện vùng đất và đặt các sự kiện ấy vào các khung văn hóa rộng lớn, không chỉ một quốc gia, vì quốc gia chỉ là thực thể đến muộn mà còn là cả phông rộng lớn về khu vực học thì mới thực sự là một địa phương học đúng nghĩa và cần phải hướng đến.

Tỉnh Thanh Hóa, không đơn thuần chỉ là một đơn vị hành chính – một tỉnh – có ý nghĩa như một địa phương có truyền thống lịch sử lâu đời với bản sắc văn hóa phong phú kiểu sáo ngữ. Điều mà rốt cục, có địa phương nào trong quốc gia khi tự sự về vùng đất qua thể địa chí chẳng tự định vị vùng đất của mình có những tính chất tương tự: “truyền thống lịch sử lâu đời và bản sắc văn hóa phong phú”? Tỉnh Thanh Hóa, gạt bỏ đi phần tình cảm chủ nghĩa địa phương, thường dao động bởi hai thái cực hoặc tự tôn thái quá hoặc bài xích loại trừ, thì đó vẫn là một tỉnh “trái tim của nước Việt Nam” theo đúng nghĩa đen. Bởi, không kể nền văn hóa Đông Sơn và hàng loạt các biến cố trọng yếu của quốc gia liên quan đến vùng đất từ thế kỷ I – X, chỉ tính ngàn năm lập quốc, kiến quốc của dân tộc Việt Nam, ngoại trừ hai vương triều Lý, Trần, thì đa phần các triều đại quân chủ và vận mệnh nước Đại Việt đều có liên hệ hoặc trực tiếp đến tỉnh Thanh Hóa. Quả đúng như Robequain hay Le Breton tổng kết:

“Vùng hiểm trở này không phải luôn biệt lập với một đời sống khép kín và đặc biệt, nó vẫn tham gia vào những sự kiện lịch sử trọng đại của châu thổ và đế quốc An Nam; chính ở dưới bóng những quả đồi của vùng đất đã khai sinh những người sáng lập nên các triều đại lừng danh nhất của dân tộc và cũng từ trong cư dân nơi đây mà chủ nghĩa yêu nước An Nam vào những giờ phút nghiêm trọng nhất tìm được nơi ẩn náu hoàn hảo và từ đó tạo nên những thành công mới.”[2]

“Muốn hiểu sâu vào lịch sử Đại Việt thì phải biết rõ về lịch sử Thanh Hóa.”[3]

Niềm tự tín về một tỉnh Thanh Hóa như trái tim của Việt Nam, thực chất là khối động cơ chủ đạo thúc đẩy tình yêu của các nhà địa phương học. Và bản thảo tôi đang muốn giới thiệu ở đây là Xứ Thanh của tác giả Ngô Hoài Chung chính là kết quả của tình yêu như thế. Ấn phẩm dày dặn, hơn 600 trang bản thảo này đứng bằng hai chân: 1. Sống – sinh ra và trải phần lớn đời mình trong tỉnh Thanh Hóa, Ngô Hoài Chung miêu thuật lại đất và người nơi đây, làm thành phần địa phương chí; 2. Suy nghiệm – không chỉ sống đơn thuần, Ngô Hoài Chung còn nghĩ, tổng kết về các đặc điểm nền tảng làm thành phẩm chất tỉnh Thanh, làm thành phần địa phương học.

Trong tư cách hiện hữu khởi nguyên, Ngô Hoài Chung là một người dân Thanh Hóa, người ở phía Nam của tỉnh, thuộc đất huyện Tĩnh Gia cũ. Trong tư cách hiện hữu xã hội, cái mà Ngô Hoài Chung kiến tạo nên, là một quan chức gắn với ngành Văn hóa Du lịch có nhiều năm làm việc trên địa bàn “tỉnh – nhà”. Và bao trùm lên tất cả là tình yêu về thực thể tỉnh/nhà Thanh Hóa ở Ngô Hoài Chung. Hưu quan, thay vì điền viên an nhàn, Ngô Hoài Chung nỗ lực thực hiện một công trình về tỉnh Thanh Hóa, trình bày trải nghiệm về tỉnh qua một đời sống trải của ông, như một bức khảm địa phương chí, dẫn dắt người đọc đi khắp tỉnh Thanh theo phong cách địa chí – du lịch. Và không chỉ đi lại chiêm ngắm và trải nghiệm, như đã nói, Ngô Hoài Chung còn nghĩ rất nhiều về điều gì tạo nên bản chất căn cốt tỉnh Thanh Hóa, điều mà ông và mọi người thường hay quy giản vào cụm từ “căn tính văn hóa”. Ở đó, công trình của Ngô Hoài Chung không còn là một khảo tả, giới thiệu, tổng quan về vùng đất mà nó còn hướng đến sự trở thành một địa phương học – nỗ lực tìm kiếm các quy luật tạo thành thân phận, cá tính của vùng đất.

Đọc Ngô Hoài Chung vì thế, vừa ích dụng cho người bắt đầu tìm hiểu về tỉnh Thanh Hóa lẫn cả những người muốn nghiên cứu sâu hơn về tỉnh này, suy nghiệm về các đặc điểm bản chất của đất và người Thanh Hóa. Phần dân tộc chí về tỉnh, được thu vào các cụm thông tin về Thanh Hóa theo đơn vị hành chính cấp huyện cũ, Ngô Hoài Chung có một cách viết mạch lạc, toát yếu, dễ hiểu. Các trình thuật địa chí ấy, có lẽ giống nhiều và chịu sự quy định với công việc của đời ông gắn bó: chỉ dẫn du lịch, văn hóa, lịch sử về vùng đất. Phần viết này, làm gợi nhớ đến Thanh Hóa cẩm tú của Le Breton[4], một cẩm nang chỉ dẫn du lịch khám phá tỉnh Thanh vào loại sớm nhất. Tuy thế, Xứ Thanh của Ngô Hoài Chung không thuần túy là một khối chữ tập hợp thông tin về vùng đất được thu lượm trong sách vở và các nguồn thông tin đa phương tiện rất tiện trong tra cứu hiện đại trên các nền tảng không gian số, mà sinh động hơn, và cũng gần gũi hơn, các phần miêu tả ấy xen ghép với trải nghiệm của chính tác giả về đất và người các huyện trong tỉnh. Phần viết về các huyện, ngay phía đầu, thường là lời trần tình, giải bày của chính tác giả về “cái duyên” với vùng đất mà ông đang viết. Thậm chí, có huyện, trước khi trình bày sự kiện địa chí về vùng đất, tác giả còn chép lại bài thơ của ông ghi lại xúc cảm về vùng đất. Điều ấy, làm sự kiện viết của Xứ Thanh như là một tự sự tự trải nghiệm. Đọc Xứ Thanh vì thế là đọc trải nghiệm một người Thanh Hóa về mảnh đất quê hương mà ông để nhiều tình cảm, và người đọc, thấy được tình yêu ấy qua chính các phần ông viết. Đối với mỗi “tiểu vùng”, được Ngô Hoài Chung hình dung trong tồn tại “cấp huyện”, nơi mà đất và người theo chiều dài thời gian có những sự kiện tạo tác định dạng dễ hình dung hơn trong nắm bắt một văn hóa, tác giả Xứ Thanh cố gắng nắm lấy hồn vùng đất, trong cả nội dung, và dễ thấy hơn cả là ngay chính tiêu đề của tiểu phần “huyện chí” (gồm đủ 27 huyện trong tỉnh): Bá Thước – Nơi đẻ đất đẻ nước; Đông Sơn – Vùng lõi văn hóa xứ Thanh; Quảng Xương – Biển một bên và lúa một bên;… Đối với những người có trải nghiệm về tỉnh Thanh Hóa, nhận ra ngay, tác giả Xứ Thanh đã có sự dụng công tìm tòi đặc sắc từng vùng đất gắn với cấp huyện trong tỉnh theo lối ấn tượng. Mỗi vùng đất cấp huyện, Ngô Hoài Chung cố gắng tóm bắt vào một đặc điểm nào đó, có thể văn hóa, huyền thoại, có thể chiều dài lịch sử, hoặc có thể là đặc điểm địa lý – nhân văn… Từ ngay tiêu đề, đến các nội dung liên quan, Ngô Hoài Chung cố gắng trình bày những nét cơ bản, nổi bật nhất về mỗi vùng đất, tạo nên một phần viết tổng quan về cái hay của sử, đất và người trong mỗi huyện. Và tỉnh Thanh Hóa là tổng thể phức hợp các đặc tính của các huyện.

Chiếm dung lượng lớn nhất, như thế, là Phần 2: “Những miền đất xứ Thanh”, trình bày về các huyện trong tỉnh. Phần tạo nên khung tri thức đại quan, dễ đọc, dễ nắm bắt về những đặc trưng về đất và người các huyện trong tỉnh. Tôi nghĩ rằng, với tính chất cơ bản của trình thuật, lối viết khá mạch lạc của tác giả giúp ích rất nhiều cho người đọc muốn có một cẩm nang vừa ngắn gọn vừa sinh động và cơ bản, chỉ dẫn khám phá tỉnh Thanh Hóa. Sự kiến tạo bản sắc một vùng đất, đến từ nhiều chiều, với Ngô Hoài Chung, điểm nhấn là tự sự về lịch sử, sự sản xuất những con người vĩ đại, di tích và rất tương hợp với thời hiện đại, cũng là nghề nghiệp gắn với tác giả là bản sắc định dạng qua cảnh quan và trải nghiệm du lịch. Du lịch kiến tạo và qui định bản sắc vùng đất, người ta thường biết đến các bản sắc của vùng đất thông qua trải nghiệm du lịch; và địa phương để phát triển kinh tế du lịch, cũng không ngừng đưa vào thực đơn bản sắc vùng đất của mình những đặc tính, sản phẩm, câu chuyện được lựa chọn để phục vụ trải nghiệm du khách.

Phần 2, do đó, có tính chất là cơ sở dữ liệu, một sự trình hiện kinh nghiệm sống với xứ Thanh của tác giả, để làm nền cho hai phần kẹp hai phía, đầu và cuối, suy nghĩ, nghiệm về “căn tính xứ Thanh” của Ngô Hoài Chung sau một đời sống với tình yêu nồng nàn với xứ sở quê cha đất mẹ. Chính hai phần một và ba, nhất là phần ba, nâng sách Xứ Thanh của Ngô Hoài Chung bước vào lĩnh vực của những suy tư địa phương học chứ không dừng lại ở địa phương chí. Trục tư duy về địa phương của Ngô Hoài Chung có thể tóm bắt như sau: 1. Được trình bày ở Phần 1: Diện mạo xứ Thanh, cho biết: một địa phương được hiện lên, có một diện mạo thường thể hiện qua bốn trục chủ đạo nhất là: địa lý [đất Thanh], lịch sử [sử Thanh], văn hóa [hồn Thanh] và con người [người Thanh]. Một lối diễn giải quen thuộc về nhận diện vùng đất, nhưng được sử dụng với ngôn ngữ gần gũi, giàu hình ảnh và điều đó, làm cho nghiên cứu của Ngô Hoài Chung dễ đọc hơn với mọi người. 2. Phần tổng kết, thực chất đã rải rác ngay phần đầu tiên, nhưng dồn nén ở phần 3: “Bản sắc xứ Thanh”. Duy trì khá chắc chắn niềm tin vào “căn tính vùng đất”, một kiểu thức tư duy ảnh hưởng của tâm lý học dân tộc mang tính chất bản chất luận, lối tư duy có sức sống rất mãnh liệt trong đời sống học thuật của Việt Nam hiện đại, Ngô Hoài Chung cho rằng: “Mỗi vùng đất hình thành một căn tính văn hóa riêng, được bồi đắp qua lịch sử, điều kiện tự nhiên, phương thức mưu sinh và cấu trúc cộng đồng”. Trên nền tư duy ấy, Ngô Hoài Chung đã tiến tới những tổng kết (trong phần ba) chứa đựng ở đấy sự suy ngẫm đáng kể:

“Nhìn từ toàn bộ tiến trình lịch sử văn hóa, bản sắc xứ Thanh có thể được khái quát qua bốn phương diện thống nhất, bổ sung và nâng đỡ lẫn nhau. Đất Thanh phát thế – nơi địa hình sông núi tạo nên vị thế chiến lược, hun đúc bản lĩnh của con người và mở ra những cơ hội lớn trong lịch sử dân tộc. Sử Thanh phát vương, phát nghĩa – nơi nhiều vương triều khởi dựng, đồng thời cũng là vùng đất mà tư tưởng chính danh đại nghĩa và trách nhiệm đối với quốc gia được biểu hiện sâu sắc qua các triều đại. Hồn Thanh phát văn – nơi truyền thống hiếu học, tinh thần trọng đạo, trọng hiền và năng lực sáng tạo không ngừng bồi đắp nên một đời sống văn hóa phong phú, bền vững. Người Thanh phát hiền – nơi từ trong gian khó vẫn liên tục sản sinh những hiền tài kiệt xuất, biết đem tài năng và tâm huyết phụng sự quê hương, đất nước. Bốn phương diện ấy không tồn tại riêng rẽ mà hợp thành một chỉnh thể thống nhất của căn tính xứ Thanh, thế đất tạo nên thế người, lịch sử bồi đắp đạo nghĩa, văn hóa nuôi dưỡng trí tuệ, con người tiếp nối và làm dạng danh quê hương. Chính sự cộng hưởng giữa địa lý, lịch sử, văn hóa và con người đã làm nên sức sống bền bỉ của vùng đất này suốt hàng nghìn năm. Vì vậy, giá trị của xứ Thanh không chỉ nằm ở những gì thiên nhiên ban tặng hay lịch sử để lại, mà còn ở khả năng không ngừng chuyển hóa những di sản lấy thành nội lực phát triển cho mỗi thời đại. Đó chính là cội nguồn của một bản sắc vừa bền vững trong truyền thống, vừa rộng mở trước tương lai; một vùng đất không chỉ lưu giữ ký ức của dân tộc mà còn luôn góp phần kiến tạo những chặng đường mới của lịch sử Việt Nam”.

Những suy nghiệm về Thanh Hóa, về bản sắc xứ sở của Ngô Hoài Chung đã giúp tác giả Xứ Thanh kể sâu hơn về số phận tỉnh Thanh Hóa trong tư cách một địa phương hiện hữu như địa lý trái tim của quốc gia – dân tộc. Đó là là một vùng văn hóa, một vùng lịch sử, một vùng địa lý – nhân văn vừa độc lập lại vừa là hình ảnh thu nhỏ Việt Nam, là một bộ phận của Việt Nam, nhưng là bộ phận đặc thù – trái tim của đất nước. Xứ Thanh ra đời và giúp cho người đọc có chứng cứ đáng tin cậy vào niềm xác tín ấy. Đó là một thành công của Xứ Thanh. Và đồng thời, nó cũng lý giải được vì sao Ngô Hoài Chung yêu mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình đến như vậy.

Ngô Hoài Chung như tôi biết còn là một nhà thơ, nên cách viết, từ ngữ được lựa chọn sử dụng trong Xứ Thanh khá uyển chuyển mạch lạc và tránh cho người đọc sự nặng nề của ngôn ngữ quan phương trường qui. Đồng thời, qui chuẩn biên khảo của Ngô Hoài Chung cũng rất cẩn trọng khi ông luôn đề cao việc nguồn dẫn liệu cụ thể, chính xác, những điều đó tạo nên cho Xứ Thanh diện mạo của một công trình nghiêm cẩn học thuật về thao tác.

Ngô Hoài Chung sau hết với Xứ Thanh đã trải cuộc đời mình ra trên giấy, trình với cuộc đời, với đất mẹ và tôi vui mừng giới thiệu đến bạn đọc một công trình vừa giàu tính thông tin vừa giàu sự suy ngẫm về các đặc điểm nền tảng tạo dựng nên tỉnh Thanh Hóa trong lịch sử.

TS. Nguyễn Mạnh Tiến

 

[1] Le Breton, H. (Nguyễn Đình Khang và Nguyễn Văn Phú dịch) (1936) (2014), An Tĩnh cổ lục, Nxb Văn hóa Thông tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, tr.38-42.

[2] Robequain, Charles (1929), Le Thanh Hoá, Etude géographique d’une province annamite, Vol. 1 & 2, Les Editions G.Van Oest, Paris et Bruxelles: Publications de l’Ecole française d’Extrême-Orient, p. 109.

[3] Le Breton, H. (1924), Le province de Thanh Hoa, Imprimerie Kim Đức Giang, Hà Nội, p.43.

[4] Le Breton, H. (1922), Thanh Hóa pittoresque, Imprimerie d’Extrême Orient, Hanoi-Haiphong.

Bài viết liên quan

NGUYỄN KHẮC ĐÀM – Sáu mươi lăm năm thơ Bằng Việt

Những năm sáu mươi của thế kỷ XX, trên Thi đàn văn học Việt Nam,. . .

DƯƠNG THANH BIỂU – Hoa dành ngày gặp lại

NƯỚC MẮT VÀ NỤ CƯỜI… (Ấn tượng đọc “Hoa dành ngày gặp lại”, tiểu thuyết. . .

Bùi Hữu Thược – LINH HỒN LANG BẠT – HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHỖ ĐỨNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI

Trong đời sống hiện đại, con người không thiếu tiện nghi, không thiếu kết nối,. . .

Ngôn ngữ Thơ trong sự phát triển của thi ca và cuộc sống

1. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của. . .

PHẠM ÁNH SAO – Người mang Lục bát xâm thực mùa hiện đại!

Nhà thơ Phạm Ánh Sao Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam      1.. . .

Nghệ sỹ Ưu tú KIỀU DƯ – Ba trong một!

Nghệ sĩ ưu tú Kiều Dư (Hội viên Hội VHNT tỉnh Ninh Bình)    . . .