Ngôn ngữ Thơ trong sự phát triển của thi ca và cuộc sống

1. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học (Goocki). Khi đi vào tác phẩm văn học, nó “là một sự phân tầng khác” của “ngôn ngữ tự nhiên”, “tương xâm” nhưng không đồng nhất với “ngôn ngữ tự nhiên” (I.Lotman). Nếu “ngôn ngữ tự nhiên” thường mang tính ổn định, thì ngược lại ngôn ngữ văn học đặc biệt là ngôn ngữ thơ với tư cách là “mã” nghệ thuật lại luôn thay đổi.

Ngôn ngữ liên tục phát triển theo sự vận động của cuộc sống. Do đó, ngôn ngữ được sử dụng trong thơ cũng phải liên tục được làm mới. Rồi từ đó mới cập nhật và điều chỉnh, định hướng cho cuộc sống này tới những giá trị mới. Đó chính là sứ mệnh của thơ ca nói riêng và văn học nói chung.

Trong sự phát triển ồ ạt của lĩnh vực thơ hôm nay, thơ đang bị coi nhẹ, bị làm loãng ra, bị làm giảm tính nghệ thuật bởi sự ồ ạt này. Mà nguyên nhân cơ bản là ở cách tiếp cận và đổi mới ngôn ngữ của thơ ca.

Ngôn ngữ dùng trong thơ thuộc nhóm ngôn ngữ đặc trưng, nó là những câu chữ bình thường trong cuộc sống, nhưng đã được tác giả mã hóa, để nó chở một hay nhiều ý nghĩa khác đằng sau nghĩa đen của câu chữ. Chính những nghĩa bóng này sẽ tạo ra trường liên tưởng cho người đọc sau khi câu chữ của bài thơ khép lại. Những câu chữ tạo nên sự liên tưởng ấy có thể coi là nhãn tự (mắt của chữ) của câu thơ. Nó khiến câu thơ đa chiều hơn.

Để xét về ngôn ngữ thơ hiện đại hôm nay, cần tìm hiểu kỹ về ngôn ngữ thơ ca qua những tác phẩm đặc trưng của các thời kỳ trong nền văn học Việt Nam.

 

2. Ngôn ngữ thơ trong ca dao, dân ca

Trong kho tàng ca dao, dân ca của cha ông ta, có nhiều bài nhiều câu đã chạm đến sự tinh túy của nghệ thuật, có lẽ chính vì thế nên nó tồn tại khách quan qua rất nhiều thế hệ người đọc Việt. Mặc dù, về cơ bản, những bài ca dao, bài dân ca ấy là ở dạng thơ mặt phẳng, thơ tự sự… nhưng trong cái tự sự ấy, có những câu đầy sáng tạo.

Thử chạm một vài bài ca dao đặc trưng của cha ông:

“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông cứ xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.

Bài thơ là một câu chuyện kể về thân phận của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Người phụ nữ ấy đã được “mã hóa” qua hình ảnh con cò. Cò là loài chim kiếm ăn về ban ngày, nhưng ở đây con cò này lại kiếm ăn vào ban đêm? Cách đặt vấn đề của tác giả dân gian đã định hướng cho người đọc hiểu rằng, con cò (người phụ nữ) trong bài ca dao này đang làm một việc gì đó khuất tất… Nếu định hướng theo mạch thơ ấy, ta chạm tiếp vào cái bi kịch của người phụ nữ ấy ở câu sau: “Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao”. Hai câu sau là lời kêu cứu của nhân vật:

Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông cứ xáo măng.

Vâng, tôi sẵn sàng chết, sẵn sàng chịu mọi mức án, nhưng mong ở “ông”, người “cầm cân nảy mực” (từ “ông” ở đây nên hiểu là những người đã “nên ông, nên bà” trong cách nói của dân gian xưa) xin ông hãy hiểu rằng, tôi phải đi ngang về tắt, phải làm việc “ăn đêm” này chỉ vì đứa con yêu thương…

“Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.

Bài ca dao với những câu chữ rất bình dị, nhưng được sắp đặt bởi một bộ óc tài hoa của miền thơ, mà những câu chữ bình thường ấy lấp lánh sáng lên. Những nhãn tự của bài thơ chẳng có gì xa lạ. Nào “ăn đêm”, “cành mềm”, “nước trong”, “nước đục”… mà khiến bài thơ mở bung ra những tầng nghĩa rất đẹp về những quan niệm của cuộc sống, về sự nhân văn của tác giả dân gian.

Qua đây, ta tạm kết luận: Ngôn ngữ thơ là nghệ thuật sắp xếp câu chữ theo ý tưởng của tác giả!

Đến với một bài ca dao nữa:

“Mình nói với ta mình vẫn còn son
Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi lấy nước tắm cho con mình”.

Bài ca dao vẫn được viết bằng mạch tự sự đặc trưng. Nội dung là một câu chuyện tình của một đôi trai gái. Nhưng điều đặc biệt ở trong bài ca dao là sự éo le của tình yêu ấy. Đó là người con trai đã có con riêng, trước khi ngỏ lời cùng cô gái. Tại sao chúng ta lại biết đứa bé là con của người con trai? Hãy xem câu thơ: “Con mình những trấu cùng tro”. À, chỉ có người đàn ông vụng về, mới để con mình nghịch ngợm, bẩn thỉu vì tro trấu đến thế, một người mẹ không bao giờ để con mình trong tình trạng tro trấu bám vào người như vậy.

Cách xưng hô trong bài ca dao đã thể hiện một sự trìu mến, hòa đồng, thông cảm. Cha ông đã sử dụng đại từ “mình – ta” để làm rõ điều ấy, nếu chúng ta thử thay cặp đại từ “mình – ta” bằng những cặp đại từ khác như: “chàng – nàng” hoặc “anh – em” hoặc “anh – tôi” thì mức độ biểu cảm của bài ca dao đã giảm đi rất nhiều. Thậm chí là giết chết tính nhân văn của tác phẩm này. Cặp đại từ “mình – ta” tức là hai mà đã ngầm như một rồi.

Như vậy, riêng việc lựa chọn câu chữ cho tứ thơ chính là điểm mấu chốt để tạo nên một tác phẩm có giá trị.

Trong mạch kể của bài ca dao, chúng ta thấy hiện lên một nhân vật “bất đắc dĩ” ấy là đứa trẻ. Những tưởng đứa trẻ ấy sẽ tạo nên một rào cản trước tình yêu của họ… Nó xuất hiện trong tình yêu như một sự thử thách… và hành động: “Ta đi lấy nước, tắm cho con mình” đã gói đủ chín bậc yêu thương, khiến tình yêu ấy cháy rực lên bằng ngọn lửa nhân văn. Mỗi câu mỗi chữ của bài ca dao thấm đẫm sự yêu thương và sự cảm thông, chia sẻ của cõi tình.

Thêm một thí dụ nữa: Trong bài “Vè nói ngược” tác giả dân gian đã sử dụng ngôn ngữ rất “đắc địa” để biến tác phẩm thành sự chiêm nghiệm sâu sắc, có ý nghĩa khuyên nhủ con người:

…Bao giờ cho đến tháng Ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Con gà chai rượu nuốt người lao đao?

Tất cả những câu trên được sử dụng bằng phép dẫn dụ rất tinh nghịch, hóm hỉnh để dẫn người đọc tới câu kết. Tất cả những cái “ngược đời” kia, lại dẫn đến một nhận định chắc chắn về cuộc sống: “Con gà chai rượu nuốt người lao đao”. Thông điệp của bài thơ gói hết vào câu kết này: Phải chăng kiếp người lao đao, khốn đốn vì miếng ăn miếng uống!

Tạm kết luận: Một tác phẩm thơ muốn đứng được, thì câu kết của bài thơ phải chắc chắn, chặt chẽ, nó phải tạo ra sự suy tư, liên tưởng mạnh nơi người đọc.

Việc làm thơ giống như việc xây nhà, kiến trúc thượng tầng là những gì mắt ta nhìn thấy, là bề nổi của căn nhà ấy. Khổ thơ kết, hoặc câu kết chính là nơi tác giả gửi gắm ý đồ tư tưởng của mình. Nó chính là cái móng của căn nhà ấy. Móng có vững thì nhà mới không đổ. Móng không vững thì dù chúng ta có đắp bao nhiêu vàng bạc ở mặt tiền, mặt hậu, có đặt vào trong ngôi nhà ấy những kỳ trân, dị bảo thì khi đổ xuống nó cũng chỉ vẹn nguyên là một đống đổ nát mà thôi.

 

3. Ngôn ngữ thơ hiện đại

Người xưa có câu: “Thời đại nào thì sinh ra văn chương ấy”. Văn chương chính là khát khao là mơ ước, là quan điểm riêng của tác giả, nhưng cũng là của nhân dân gửi vào thời cuộc lúc bấy giờ. Văn chương gắn liền với những tiến trình của lịch sử và đồng hành với sự phát triển của xã hội. Điểm lại một thế kỷ qua của văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng, ta dễ dàng nhận ra đặc điểm này. Thời kỳ đất nước còn dưới ách thực dân, phong kiến thì xuất hiện những bài thơ bức bối, ngột ngạt trong cảnh tù túng về thời cuộc, về sự lầm than của cả một dân tộc.

Những sáng tác của các nhà thơ, chí sĩ yêu nước như Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng… v.v đã nêu bật điều ấy. Nhưng trong thời kỳ này có một mảng thơ khác đã tạo nên diện mạo mới cho thơ Việt, đó là những nhà thơ đã đổi mới quyết liệt, làm nên mốc son chói lọi cho thi ca Việt Nam. 46 gương mặt thơ ưu tú thời ấy đã được Nhà phê bình Hoài Thanh giới thiệu trong tác phẩm kinh điển Thi nhân Việt Nam, như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, v.v…

Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ thì thơ Việt Nam đã xuất hiện nhiều tác giả mang tầm vóc lớn. Những tác phẩm của các nhà thơ xuất hiện trong thời ấy như Phạm Tiến Duật, Lê Đình Cánh, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Đức, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Bằng Việt, Trần Nhuận Minh, Trần Đăng Khoa… Đã tạo nên một cuộc thăng hoa ngôn ngữ giữa bốn bề bom đạn. Đọc lại những tác phẩm ấy, người đọc hôm nay còn cảm thấy khí thế hừng hực của cả dân tộc cháy trong hồn câu vía chữ.

Ấy là xét về mặt nội dung và tư tưởng của các tác phẩm. Còn về mặt nghệ thuật, thì thơ ca hiện đại đã bắt đầu loại bỏ dần kiểu thơ mặt phẳng, thơ tự sự để hướng tới sự đa chiều. Câu chữ ám ảnh hơn, sự nhập đề, dẫn đề đã bị loại khỏi cuộc chơi khắc nghiệt của thơ. Ngôn ngữ thơ thời kỳ này cô đọng, mượt mà, nhưng không còn mang cái cách kể lể, rào đón trước sau nữa. Vần điệu thơ, nhịp thơ cũng thoáng hơn. Tính nhạc ăm ắp trong từng tác phẩm.

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, ngôn ngữ trong thơ Việt Nam thay đổi đến chóng mặt. Các biện pháp thể hiện qua cách tìm tòi và xây dựng ngôn ngữ cho thơ hình thành nên rất nhiều trường phái thơ. Ở đây, chúng tôi sẽ bàn kỹ hơn về việc sử dụng và đổi mới ngôn ngữ trong các thể thơ truyền thống, thơ có vần có nhịp điệu của một số tác giả tác phẩm trong giai đoạn này.

 

4. Ngôn ngữ thơ – Một góc nhìn từ thơ Lục bát hiện đại.

Thơ lục bát là thể thơ lâu đời nhất của nước ta, nó được ví như quốc hồn, quốc túy của dân tộc. Lục bát truyền thống thường dịu dàng, ngọt ngào, vần điệu chuẩn chỉ theo nguyên tắc: Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh. Lục bát cổ tích chữ thứ hai phải là vần bằng, chữ thứ tư vần trắc, chữ thứ 6 của câu lục và câu bát đều là vần bằng. Nhưng trong quá trình sáng tác, người làm thơ Lục bát tài hoa thường rất linh hoạt trong cách xử lý vấn đề niêm luật kia để không gian thơ Lục bát rộng hơn và sức gợi, sức mở cũng sâu hơn. Như trong Truyện Kiều, Thi hào Nguyễn Du đôi khi đã phá vỡ trật tự ấy để tạo ra những câu thơ Lục bát khác lạ bằng cách dùng vần trắc ở ngay chữ thứ hai của câu thơ. Ngay cả các tác giả dân gian, cũng phóng khoáng với Lục bát không kém, trong kho tàng văn học Việt Nam còn hàng trăm hàng ngàn những câu ca dao vẫn mang hình tướng Lục bát, mà số lượng chữ lại rất linh hoạt, nhằm mở rộng không gian và tăng sức biểu cảm cho câu thơ: Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/ Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua.

Hiện nay, thơ Lục bát Việt Nam chỉ còn giữ nét truyền thống ở vần (vần thông và vần lưng), còn niêm luật cũng không câu nệ lắm. Chính nhờ sự đổi mới này mà văn học Việt Nam có thêm những câu thơ Lục bát đỉnh cao mới xuất hiện:

Đây đám cỏ nơi ngã ba
Em buồn nhiều, cỏ biết là đợi anh
Nỡ nào bứt cọng cỏ xanh
Đau em chợt trút cho thành đau cây 

Quá giờ hẹn ai qua đây
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Em buồn nhiều, cỏ bớt tươi
Đêm tối lắm, chỉ sao cười với nhau 

Anh lỡ hẹn, gió về đâu
Nỡ nào bứt cỏ cho nhàu ban mai
Em buồn nhiều, cỏ khóc ai
Giọt sương ấy có đất đai nhận rồi 

Lỡ hẹn bóng không còn đôi
Em như con dế không rời cỏ xanh.

(Đám cỏ xanh – Lê Thị Mây)

Tiếp cận thơ hiện đại, người ta không còn để ý nhiều đến hình thức thể hiện của bài thơ nữa, mà quan trọng hơn là trong cái vỏ hình thức ấy, thì ngôn ngữ thơ đang nói lên điều gì? Độ nén, độ đọng của câu chữ thế nào? Và quan trọng hơn nữa là sức mở, sức gợi của bài thơ tạo ra sự liên tưởng thế nào nơi người đọc. Trong thơ Lục bát hiện nay, thường thì những hình thức tiểu đối, hoặc ẩn dụ, so sánh khác lạ sẽ tạo ra câu thơ khó quên. Thí dụ:

Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

 (Đồng Đức Bốn)

Thế tiểu đối trong câu thơ này chính là biện pháp so sánh ngầm giữa một bên là chất để cháy lên ngọn lửa (rạ rơm) thì ít mà cái để làm lửa cháy nhanh và nhanh cạn (gió đông) thì lại nhiều. Cả bài thơ tưởng là chuyện của trẻ con chăn trâu cắt cỏ mà mang nỗi niềm của cuộc sống. Ấy chính là hiệu ứng của thơ ca. Đã có một thời, mọi chỗ, mọi nơi đâu đâu cũng ngập tràn khẩu hiệu, nhưng chất lượng của cuộc sống thì dưới mức trung bình… và cái củ khoai kia đã được nhà thơ lựa chọn để mã hóa ý tưởng của mình.

Sử dụng thế tiểu đối thành công trong thơ Lục bát khiến không gian thơ mở rộng hơn:

Đồi sim dan díu nương chè
Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai

(Nguyễn Bính)

 

Đêm nay không khí say nồng
Nghìn cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi.

(Huy Cận)

Ngôn ngữ trong thơ Lục bát nói riêng và thơ truyền thống nói chung cần phải được đổi mới liên tục để bắt theo được cái nhịp điệu, cái nỗi niềm của cuộc sống và thời đại. Những cụm từ, những ý thơ mà các thế hệ tác giả trước đã dùng. Ví dụ như: “nhớ thương”, “chàng nàng”, “tuyết sương”, “nắng chan, mưa gội”, “má ấp, môi kề”, “ân ái”, “ái ân”, “lá ngọc” “cành vàng”, “phấn ái”,… ở thế kỷ 21 này đã trở nên sáo mòn, cũ kỹ lắm. Thơ văn vốn không chấp nhận những sự lặp lại, đặc biệt là thơ Lục bát, sự lặp lại sẽ dẫn đến sự nhàm chán, người đọc sẽ có cảm giác đầy ứ, khó tiêu hóa khi chạm những tứ thơ cũ kỹ về câu chữ, lười biếng về ý tưởng.

Thơ tự sự của người xưa vốn thiên về kể, về tả… đã ảnh hưởng rất nhiều đến những sáng tác của các cây bút thơ hôm nay. Do đó, trộm nghĩ, để thơ hôm nay cô đọng hơn, hàm xúc hơn, trước hết các tác giả cần tự mình dọn sạch những từ rỗng, từ chèn ít nghĩa, hoặc chỉ làm đủ số chữ cho có vần, có điệu trong những bài thơ của mình. Những câu chữ loại này cần loại bỏ một cách quyết liệt. Nói là chơi thơ, nhưng Thơ không có chỗ cho sự dễ dãi, nhàm chán về ngôn ngữ.

Xin được dẫn ra một số tác phẩm Lục bát đỉnh cao của thời kỳ này. Những bài thơ ấy, bên cạnh cái tài hoa thơ trời cho là sự điêu luyện thượng thừa trong việc xây dựng và sử dụng ngôn ngữ thơ của các tác giả.

Trong thi phẩm Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, cảm xúc thơ của thi sỹ đã nhập thẳng vào làn hương huệ lặng lẽ, vào chân cây nhang, vào làn khói nhang vòng vèo nối hai cõi âm dương được thắp giữa đêm khuya. Hương huệ bần thần hay hồn vía con bần thần trong đêm nhớ mẹ, nhìn chân nhang cắm vào tro tàn tần tảo mà hiện ra dáng mẹ xăm xăm buổi trần gian ngày khốn khó. Rồi từ hương khói ấy, là một cuộc “đánh đồng thiếp” của câu chữ và hình ảnh, đưa ta về với những tháng ngày trong trẻo yêu thương giữa vòng tay của mẹ. Tất nhiên, để lập nên được thứ ngôn ngữ thơ dung dị mà hàm ngôn như thế, là phải có một tư duy thơ sắc sảo và một vốn sống, vốn viết rất giàu có. Mời đọc cả bài thơ:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

                               (Nguyễn Duy)

 Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.

Cái cò… sung chát đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

Bao giờ cho đến mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho đến tháng Năm
mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao.

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi.

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ… mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…

(Sài Gòn, thu 1986)

Trong bài thơ Gió đất, ngôn ngữ thơ Lục bát của Lê Đình Cánh đã tạo ra một thi phẩm đặc biệt từ luồng gió mang hơi lạnh thổi bạc trắng cả ngàn lau, phả ra nỗi mất còn của chiến tranh, thổi hắt vào hai nửa âm dương từ lòng đất, lòng người. Cái tài hoa trong bài thơ ấy là sự dẫn biện, gợi mở của câu chữ, ngỡ đơn giản mà ý tứ thơ cứ chồng lớp lên nhau, lay thức, ngân rung các tầng sâu thẳm trong hồn vía câu chữ. Người chồng nằm lại chiến trường, người vợ ở quê nhà với áo cơm tần tảo và giông bão muôn phen… tất bật đến thiếu cả thời gian để đau để xót, không có cả thời gian để hóa thân thành vọng phu giữa âu lo khốn khó! Chỉ bằng những câu chữ dung dị, mộc mạc, mà cái mất ấy, cái đau ấy lại mở ra sự vĩ đại lồng lộng về đức hy sinh của người phụ nữ Việt trong thời bom đạn!

 

Gió đất

          (Lê Đình Cánh)

Người còn tên. Người mất tên…
Dãi dầu mưa nắng nằm bên giãi dầu
Gió sương cỏ dại phai màu
Nấm mồ liệt sĩ như nhau nấm mồ…

Vợ nghèo nước mắt chưa khô
Nẻo đường rơm rạ tìm vô thăm chồng
Quê nhà mấy bận bão, giông
Vỡ đê nước ngập trắng đồng lúa xanh.
Mải lo cơm đủ áo lành
Còn đâu lúc rỗi để thành Vọng Phu.

Khói hương như thể mây mù
Trắng trời lớp lớp lau gù đội tang
Xạc xào gió lá ngụy trang
Gió từ cõi đất gió sang cõi người!

                              (Tạp chí VNQĐ số T6-1998)

Có thể nói, sự thay đổi và sáng tạo trong ngôn ngữ thơ, trong cách lập cấu tứ thơ thường dễ nhận ra ở thơ Lục bát hơn cả. Nhiều cây bút thơ có tên tuổi ở giai đoạn này luôn bám vào truyền thống để thực hiện cách tân cách nói, cách diễn đạt cho thơ, đồng thời tạo ra những từ mới, những đơn vị ngôn ngữ thơ mới ngay trên nền tảng thơ truyền thống của dân tộc. Vẫn vần Lục bát ấy, vẫn nhịp sáu tám ấy, nhưng trong từng vuông chữ kia là sự khai mở đến tận cùng tâm tư của kiếp người. Có thể nói, ngôn ngữ thơ của thời nay đã chuyển tải khá trọn vẹn những buồn vui khát vọng của kiếp người đương đại vào trong kiếp chữ. Xin cùng chạm những ngổn ngang dở dang và chắp nối giữa cõi tình qua một cung Lục bát của nữ sỹ họ Đoàn:

Chồng chị, chồng em

                 (Đoàn Thị Lam Luyến)

Xưa thì chị, nay thì em
Phải duyên chồng vợ, nối thêm tơ hồng!
Được lúa, lúa đã gặp bông
Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa!
Mặn mà cũng khác ngày xưa
Bâng khuâng như chửa bao giờ bén duyên
Gần được ấm, xa được êm
Giẫm vào ruộng hóa vụt lên mùa màng.
Cái giần vục phải cái sàng
Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau
Lá bùa từ thuở Mị Châu
Lá bài Trọng Thủy còn đau đến giờ!
Tình yêu một mất mười ngờ
Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau
Cái phận trước, cái duyên sau
Nào ai tính được dài lâu với trời?
Khi vui muốn có một người
Khi buồn muốn cả đất trời hòa chung
Đã từ hai mảnh tay không
Kể chi mẹ ghẻ, con chung, chồng người…
Dở dang suốt nửa cuộc đời
Bỗng dưng gặp được một người thương nhau
Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm.

Sự đổi mới của ngôn ngữ thơ với Lục bát, không chỉ nằm trong những đơn vị từ mới, những cách tiếp cận cuộc sống mới, nhiều tác giả còn mạnh dạn tạo sự vắt dòng từ mười bốn nhịp đều đặn của Lục bát, và từ ấy với cùng số lượng câu chữ, nhưng ý thơ được tự do bung mở, nó kích cầu luôn cả tư duy thấu cảm thơ nơi người đọc. Đọc thi phẩm Đồng chiều của thi sỹ Đỗ Vinh viết cho tuổi thơ dưới đây hẳn những bạn đọc lớn tuổi cũng rất tâm đắc, bởi câu chữ ấy đã tạo ra trường liên tưởng mới, để người đọc chạm được vào cái vất vả, tảo tần của những kiếp người trong một đất nước nông nghiệp lạc hậu, được ẩn trong phía câu chữ tưởng chừng như chỉ dành cho lứa tuổi ấu thơ kia:

 

Đồng chiều

                (Đỗ Vinh)

Cuối ngày đủng đỉnh
trâu về
cưỡi trâu
cưỡi cả con đê cỏ vàng
hai sừng
đã chạm cổng làng
bốn chân
bì bõm chưa sang khỏi chiều
cái đuôi
sau rốt vòng vèo
còn vung vẩy nốt
chút heo may đồng…   

     (Bài đoạt giải Nhất trong cuộc thi thơ thiếu nhi năm 2001)

Tiếp theo, xin cùng đến với một bài Lục bát rất thành công của thi nhân Trương Nam Hương. Xin được nói thêm rằng: Ngôn ngữ thơ Lục bát cũng như các dạng thức thơ khác của thi sỹ Trương Nam Hương luôn được triển khai bằng một hệ thống ngôn ngữ thơ rất đỗi tự nhiên, khoáng đạt, nhưng để có cái tự nhiên ấy là cả một quá trình tìm tòi sáng tạo liên tục từ một tài hoa đích thực của miền thơ.

 

Tâm sự nàng Thúy Vân

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

 Ơ kìa! Sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ khuất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu

Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường 

Chị nhiều hờn – giận – yêu – thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim 

Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!

(Trương Nam Hương)

Rõ ràng vẫn là dịu dàng, uyển chuyển với mạch thơ Lục bát truyền thống, ấy vậy mà giăng ngang mắc dọc trong ấy là những nhãn tự độc đáo, chúng cứ nhìn xoáy vào miền thấu cảm nơi người đọc: Này chữ Lấm vừa gần gũi vừa tài hoa được thi nhân gửi lên vầng trăng lần lữa chín hẹn, mười thề của kiếp má hồng: Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò. Này, cái mấp mô của những nấm đất úp lên phận người nơi nghĩa địa: Mấp mô số phận vuông tròn/ Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu. Có thể nói, ngôn ngữ thơ Lục bát Việt Nam trong vài mươi năm trở lại đây đã tiến một bước rất dài để cập nhật và chia sẻ khá đầy đủ những nỗi niềm nhân thế hôm nay.

Tiền nhân đã dạy: Cái gì đầy quá thì đổ. Ngôn ngữ thơ cũng vậy, nó cần lắm sự ám ảnh, cần lắm cái thiếu khuyết khuất lấp vào mạch chữ, phần thiếu ấy đôi khi chính là sự sáng tạo của người viết dành cho người đọc, nó là cái cơn cớ nguồn mạch để “người đọc thành người đồng sáng tạo với tác giả” (Ý kiến của G.S Trần Đình Sử).

Từ góc nhìn của thơ Lục bát, một thể thơ xưa cũ, gần gũi nhất với người Việt mà đã thấy sự đổi mới liên tục và mạnh mẽ trong ngôn ngữ thơ đến như vậy, thì với những dạng thức, những thể loại thơ khác việc đổi mới ngôn ngữ thơ còn cần thiết đến bao nhiêu!

 

5. Một số kết luận:

Ngôn ngữ thơ cần liên tục đổi mới để tiếp cận được với muôn mặt của thời cuộc và những kiếp người! Thơ dạy cõi người biết yêu lẽ phải, yêu gia đình, dòng tộc, quê hương tổ quốc, yêu dân tộc mình, thơ hướng con người đến cái cao thượng… muốn làm được điều đó, chí ít thì người làm thơ luôn luôn phải cập nhật và sáng tạo cho mình một hệ thống ngôn ngữ thơ có đủ nội lực để cập nhật và chia sẻ với nỗi người, nỗi đời ngay tại thời điểm hiện tại.

Trong lịch sử văn chương, những cuộc đổi mới chính là nhân tố để thúc đẩy sự phát triển và tạo ra những giá trị nhân văn mới. Tất nhiên, trong quá trình thực hiện có thể lúc này hay lúc khác sự đổi mới ấy lâm vào bế tắc. Nhưng riêng với ngôn ngữ thơ, việc đổi mới và sáng tạo luôn là điều vô cùng cần thiết, nó là sự bắt buộc cho mọi nền văn học nói chung và thơ nói riêng. Phải đổi mới ngôn ngữ thơ, thì thơ ca mới phát triển và thực hiện được sứ mệnh của mình. Chỉ có đổi mới, thì ngôn ngữ thơ mới đủ rộng dài để cập nhật, sẻ chia và dìu đỡ những thăng trầm của cõi người trước mọi thế thời!

NGUYỄN THẾ KIÊN   Kienlucbat

 

* Loạt bài đăng trên các báo: Quân đội Nhân dân, 29/05/2014

Bài viết liên quan

Thơ phong trào – Đôi điều chia sẻ!

1. Dẫn nhập Trong khoảng vài chục năm trở lại đây các CLB Thơ ca. . .

PHẠM ÁNH SAO – Người mang Lục bát xâm thực mùa hiện đại!

Nhà thơ Phạm Ánh Sao Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam      1.. . .

Nghệ sỹ Ưu tú KIỀU DƯ – Ba trong một!

Nghệ sĩ ưu tú Kiều Dư (Hội viên Hội VHNT tỉnh Ninh Bình)    . . .

Đồng Vọng – Ngô Hoài Chung

Tác giả Ngô Hoài Chung     TUỔI CỦA THƠ –  TUỔI CỦA ĐỜI  . . .

NGUYỄN LINH KHIẾU và hành trình khai mở một thể loại văn học

Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam     1.. . .

NGÔ ĐỨC HÀNH trong mênh mang mạch chữ

Nhà báo Ngô Đức Hành      1. Nhận diện từ những mảnh rời. Đã. . .