Nhà thơ Vũ Quần Phương
1. Ngang một vỉa trầm.
“Đã bao lần tôi định viết về ông”. Đọc Vũ Quần Phương(1) xong, nhiều người bảo vậy, tôi cũng thấy mình ở trong tâm lý của cái ngữ “định” ấy. Định thì hăng hái lắm, đọc rồi gấp mở, rồi đánh dấu… tưởng như đã nắm chắc ông trong cái sở thấu tuệ thơ của mình… rồi đến khi đặt bút, lại nhớ chuyện mấy anh thày bói xem voi thuở nào mà tủm tỉm cười rồi đóng phím: Dào, lo gì, cứ để cụ đấy! Sanh kia không thủng, cá đi đằng nào, cứ để cho thơ cụ chín nhược chín nhào trong ta đã! Không ép, không vội…
Tôi, một gã lãng tử vụn của cõi thơ, bình bọt thơ cũng chỉ là việc tay ngang, nhưng vẫn cứ tớn tở bên ông, lạ thật! Nhiều lúc thấy mình cứ như thân với ông lắm, nhưng đọc thơ ông, mới thấy mình cách cõi chữ của ông xa lắm, nhưng mà kệ, với ông Phương Áo đỏ, ông Phương Đợi, thì ai chả ngỡ mình thân! Có lần đang kéo ông đi chụp ảnh, ông bảo: Tớ đi để làm vật cảnh cho các cậu diễn, thế là tớ vẫn còn giá trị phết chứ nhỉ! Chuyện của ông nghe cả đời chả hết!
Người nào gặp ông xong cũng thấy ông gần gũi như bạn bè của mình, cái cảm giác ấy nhiều anh nghĩ là thật. Mà ông dễ gần thật, đáng yêu thật, đấy, như tôi, gọi là biết ông, gần ông nhẽ đã ngót hai mươi năm rồi, nhưng để tri âm, tri kỷ với ông được, thì họa có mà giời sập.
Ông quảng giao và chịu đi cùng những cuộc văn chương lắm. Tại những cuộc văn chương ấy, ông nghe chăm chú, nói chăm chú. Ông là mẫu người của văn chương, nên cứ vẳng chuyện của cõi văn là ông luôn chăm chú vậy!
Ngoài đời ông là vậy, trong thơ ông câu chữ như vẫn mang cái nết hóm hỉnh ấy, nhưng trong cái phom chân phương, dung dị, hóm hỉnh của chữ kia, là một nội lực thâm hậu, tinh tế và kín cạnh. Thơ ông như tự nhiên như chân lý, mà chả phải xù xì, gồ ghề, chả thấy lên gân lên cốt, chả phải đánh bóng đánh bẩy gì! Đọc ông từ Đợi, từ Áo đỏ, đến giờ vẫn thấy cái dung dị mà sâu lắng vậy!
Phải chăng cái nếp chữ ấy mới minh định nên cõi thơ Vũ Quần Phương?
Trong sự nghiệp thơ của mình, ông đã có những thành công lớn ở cả hai mảng là: Sáng tác và Thẩm bình thơ. Có một điều rất đáng chú ý, bởi ông là một bác sỹ, vậy mà thơ đã tách ông ra khỏi tấm áo blu rồi điều chuyển ông về miền thi ca lãng đãng!
Những giải thưởng mà thơ mang đến cho ông không phải là công cụ xác định hết tầm vóc thơ ông, nhưng nó là một cơ sở để cho ta tin vào một tâm hồn thơ, một bút pháp thơ có ảnh hưởng rất tích cực tới đời sống văn hóa và thi ca Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua!
2. Một vòm thơ trong mùa hội nhập.
Trong bài viết này, những trang thơ cũ của ông, cái đã làm nên tầm vóc thơ ông, có lẽ không bàn thêm nữa, bởi có bàn về Áo đỏ, về Đợi, hay sâu xưa hơn là bàn về Hoa trong cây xuất bản từ những năm 1977 của ông thì cũng là làm cái việc vẽ thêm chân cho rắn mà thôi.
Việc tổng hợp, khảo cứu lại đời thơ của ông, xin để cho hậu thế làm, thơ văn cần có độ lùi, cần có sức sống bền bỉ với cuộc đời, ấy mới là cái giá trị cốt lõi mà bất cứ người viết nào cũng muốn hướng tới! Cứ để trăm năm sau, người ta bàn về văn chương hôm nay mới là chính xác và chuẩn chỉ! Bởi cái việc bàn lúc ấy, nó chả phải e ngại, chả phải phụ thuộc vào điều gì ngoài nghệ thuật và tư tưởng của thi ca!
Trong khoảng 10 năm gần đây, Vũ tiên sinh có xuất bản hai ấn phẩm thơ mới. Ấy là các tập sách Phía ngoài kia là rừng, NXB Hội Nhà văn, 2017 và Tiếng ngỗng trời kêu xa xứ, NXB Hội Nhà văn, 2023. Thơ Vũ tiên sinh trong những ồn ào hối hả hội nhập thế nào? Lớp người đang làm thơ hôm nay thì đa phần gần như đều đã đọc, đã “hát” thơ Vũ Quần Phương của thế kỷ trước! Thế nên người ta tìm đọc ông, đọc vừa là để thưởng thức, và cũng là để hy vọng một sự chuyển dịch trong thế giới thơ ông. Bởi vậy nên, nội dung của bài viết sẽ bàn sâu hơn về những chuyển dịch trong thơ Vũ Quần Phương qua hai ấn phẩm này!
Đọc thơ Vũ Quần Phương trong thời gian gần đây, thấy sự chắt lọc và tinh luyện ngôn ngữ của một tư tưởng thơ lớn! Nhiều bài thơ của ông viết như tự nhiên, nhưng trong ấy là những tầng thức ngộ từ một cách nhìn minh triết. Tinh luyện, tối giản ngôn ngữ thơ, mà không làm xơ cứng, không làm mất sự biến ảo của thi ca. Có thế thì mới gói được cái minh triết của tuệ nhãn, của Đạo trong cái thong dong, lơ mơ, lãng đãng hào hoa của thơ.
Đêm qua gió xuân về
đánh thức đá, gọi chồi non mở mắt
Sáng nay khói lả trên mái bếp
xem chừng bịn rịn với hương đêm…
…
Mùa đông vừa dứt cơn gió cuối
mưa bụi mùa xuân say rượu bay
ngô từ hốc đá nhô mầm mới
ngây thơ con mắt chuyện cùng mây…
…
Ao chuôm nở giữa cao nguyên đá
thì đá thành hoa súng hoa sen
đồng tam giác mạch ôm vai núi
thành dải khăn choàng trên áo em.
(Gió xuân cao nguyên đá).
Đọc thơ của Vũ tiên sinh người ta gặp một hệ thống nhãn tự rất riêng biệt mà ông đã tạo ra cho thơ mình. Những nhãn tự ấy thường được gọi là mắt chữ trong thơ, mắt chữ mới nhìn sự vật và hiện tượng bằng cách riêng, từ đấy mới có “nguồn” có “mạch” để mà quy chiếu lên những vui buồn của phận người. Lý thuyết là vậy, nhưng viết để khéo, để tự nhiên, không lộ ra sự đẽo chuốt, thì khó lắm.
Nửa đêm thức giấc nghe trong lá
Men của mùa xuân đã rót về
Vườn tược ao chuôm với cửa nhà
Rì rầm trò chuyện với đêm hoa
Mái đình thơm ngói thì tâm sự
Với một nguồn hương xa, tít xa.
(Mùa hoa bưởi).
Đọc Vũ tiên sinh, nhận ra rằng, tư tưởng thơ ông luôn nhất quán, và nó đọng lại ở cái khai ngộ, cái giải mật cảm xúc tự tâm hồn ông, chứ tuyệt nhiên không thấy cái lóng lánh, cái sặc sỡ, hay cái u minh của câu chữ thơ mà nhiều người đang lạm dụng. Hãy xem ông kiến giải về trà sen bằng sự tối giản mà đầy dẫn gợi:
Hoa khâm liệm cho chè bằng chính thân hoa
chôn những sợi móc câu vào tầng tầng hương ngát
sương đêm ngoài kia nước mắt
khóc cho hoa hay khóc cho chè…
…
Tôi nâng chén chè sen ngào ngạt hương mùa hạ
tôi uống chè hay sen không biết
chỉ biết rằng hoa thác
thì chè thành hương bay.
(Chè sen).
Đọc thơ Vũ Quần Phương, dễ bị cái độc đáo của tứ thơ dẫn đi, rõ ràng thấy nó hay mà không biết cái hay ấy được tạo ra từ mạch nào, để có được những quan sát bằng tài năng và sự chiêm nghiệm có khi cả một đời người thơ không ngộ ra được! Như ở bài Chè sen vừa dẫn trên đây, bài thơ khiến người ta liên tưởng đến những sự tận hiến. Tận hiến thì sẽ tỏa hương. Tận hiến thì sẽ vĩ đại!
Làm thơ là nghề cầm chữ, luyện chữ như luyện võ, để đạt tầm biến ảo vi diệu như thế bằng cái sự thong dong bên ngoài, là cực khó và cực khéo! Thơ của Vũ tiên sinh luôn thấp thoáng nét hài hước mà sâu thăm thẳm của ông, làm thơ mà đọc lên đến độ nghe cứ như có người đang tủm tỉm cười mà rủ rỉ đọc bên tai những câu thế này, thì sợ thật:
Ngày sáng sợ đêm đen
Kẻ có mắt sợ ông mù phán bảo
Sợ thần cây đa, sợ ma cây gạo
Sợ loăng quăng cả cú cáo cây đề
Gi gỉ gì gi, cái gì cũng sợ
Không vay mà thành nợ, có sợ mới thành dân
Kẻ nín bật lời, kẻ nói thành câm
Nhưng sợ nhất là thằng không biết sợ!
(Sợ).
Luyện chữ đến độ chữ bật ra như tự nhiên, nghĩ đến cảnh thức nào, là chữ nghĩa bay về dựng nên cảnh thức ấy. Chỉ một tia cảm thức thơ chợt đến khi tắc đường, đã cho ông một tứ thơ độc và sâu thế này.
Lịch sử thích sang trang
thì sang
ta cứ rung đùi trắc bằng Rồng Lạc
đường lên Phong Châu
đường về Kinh Bắc
voi vẫn chín ngà
ề à…
ngựa chín hồng mao
Câu thơ chiêm bao
người thơ ngủ gật
đường hối hả xe lao, tàu giật
Ngủ trong đầu
thì tắc
xuống chân đi.
(Viết lúc tắc đường).
Với tôi, đọc thơ của những nhà thơ lớn, khi họ đã ở tuổi cuối chiều không phải là để tìm cái hay, cái đắc đạo của chữ trong thơ của họ. Cái tôi tìm trong thơ họ lúc ấy, là góc nhìn, là sức mở, là sự hiện diện của những câu chữ mới được sinh ra trong mặt bằng thơ của thời điểm ấy. Đọc thơ của Vũ tiên sinh với những vần thơ mới viết trong giai đoạn này, người ta nhận ra sự tối giản về ngôn ngữ thơ. Cũng bởi tối giản và gợi thức bằng chính tư duy người đọc, cho nên có nhiều bài thơ của ông viết trong giai đoạn này, càng đọc đi đọc lại, càng phát hiện thêm các tầng thức trong ngôn ngữ thơ ông.
Ý thức đi đâu mà vắng nhà
Quay lại nhìn, ta không thấy ta
Thì vẫn nói năng, đi lại. Vẫn…
Vẫn … vẫn… mà như chưa sống qua.
(Một cơn vắng ý thức*).
Thơ ông, có những khái niệm mới, những cách định danh mới cho sự vật, hiện tượng. Đấy là nét thường thấy trong ngôn ngữ thơ ông ở giai đoạn này:
Cây vĩnh biệt đời cây
cây bắt đầu cuộc đời của gỗ.
(Tạ từ đường cây Voi Phục).
Mùa xuân như một phong thư ngỏ
Tôi đọc lời cha ông đất đai
Ruộng đất về lại tay cày cuốc
Người trĩu mồ hôi, cây trĩu sai.
(Đọc trên mặt đất).
Trong thơ ông, ta thường bắt gặp những cuộc tương kiến giữa ông và chính mình. Dẫu cùng một bản chất, nhưng khi đặt ở những kết cấu và thời gian khác nhau, thì lại trở thành những thực thể xa lăng lắc: “Người nhìn ta như nước/ Ta nhìn người như mây”. Theo tôi, đây là một câu thơ dung dị mà tài tình của tiên sinh họ Vũ! Ừ nhỉ, nước và mây suy cho cùng đều là các dạng thức của nước cả, vậy mà trời biển cách xa, hình thể và quy luật tồn tại cũng hoàn toàn dị biệt.
Ngồi lại căn nhà xưa
Gặp người trong cõi trước
Người nhìn ta như nước
Ta nhìn người như mây
Đi trong phố Hội An
Mỗi người thêm một bóng
Cái bóng của thời gian
Ta thành ta thuở ấy
Biết buồn vui thế nào.
(Một trưa Hội An).
Ngẫm ra, để buông được những câu thơ đầy trải nghiệm như trên đây, người viết đã phải dụng công để cài đặt ý tưởng thơ vào những tầng thức của ngôn ngữ mới có được. Vũ Quần Phương đã làm được cái việc tinh chế chữ trong thơ ấy một cách rất thong dong, đều đặn và tự nhiên vậy.
Sự tối giản, dung dị mà điêu luyện trong mạch ngôn ngữ thơ đều là điểm đến, đích đến của những cây bút thơ đích thực, nhưng để thành công trong “cuộc thi ca” ấy, thì chỉ những nhà thơ lớn, có tầm tư tưởng lớn mới có thể thành công. Ấy chính là sự chuyển dịch quan trọng trong mỗi người thơ vậy! Và có lẽ cái thành công thường ở số ít, nên tiền nhân mới nhắn lại cho hậu thế về thơ rằng: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” – Ấy mới là cái quý trong cõi thơ vậy!
3. Lời kết về một cõi chữ.
Viết về những tác giả thơ đã được khẳng định và có tầm ảnh hưởng lớn như Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Trần Quang Quý, Nguyễn Đức Mậu… là một điều không hề dễ. Tác phẩm của họ vốn đã được giới chuyên môn tương tác, khai thác khá kỹ lưỡng, nên nếu không cẩn trọng sẽ rất dễ rơi vào thế “theo voi hít bã mía” chứ chả chơi. Bởi vậy, bài viết này chỉ mang góc nhìn cá nhân của người viết về một sự dịch chuyển, một tầng lay thức mới trong thơ Vũ Quần Phương những năm gần đây!
Giữa thời buổi văn chương và nhất là thơ ca đang phấp phới với muôn hồng ngàn tía, khiến người đọc phải e dè nghi ngại, thì những trang thơ của Vũ tiên sinh chắc hẳn sẽ làm cho công chúng của thơ bớt những hoang mang!
Tháng 7 năm 2026
NGUYỄN THẾ KIÊN
* Bài đã in trên các báo: Tạp chí “Tinh hoa Việt”, số 14 ra ngày 20/8/2026;
Website: Vanvn.vn, ngày 10/9/2026
([1]) Nhà thơ Vũ Quần Phương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Bài viết liên quan
Đồng Vọng – Ngô Hoài Chung
Tác giả Ngô Hoài Chung TUỔI CỦA THƠ – TUỔI CỦA ĐỜI . . .
Th10
NGUYỄN LINH KHIẾU và hành trình khai mở một thể loại văn học
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu 1. Mở cửa. Trong những giá trị lớn. . .
Th10
NGÔ ĐỨC HÀNH trong mênh mang mạch chữ
Nhà báo Ngô Đức Hành 1. Nhận diện từ những mảnh rời. Đã. . .
Th10
LỜI THÌ THẦM CỦA LƯƠNG TRI
Tác giả Nguyễn Thế Minh Đó là lời tâm sự thì thầm của. . .
Th10
BÙI THANH HÀ và những khúc ru mùa chữ
Nhà thơ Thanh Hà 1. Thi ca thói thường vốn ưa sự phóng khoáng,. . .
Th10
KHÚC THIÊNG CA CÒN NGÂN MÃI
Nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội . . .
Th10