Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: Người ta có thể viết lại lịch sử nhưng ký ức thì không thể. Đúng là thế giới ngày càng “đa biến”, chiến tranh với chết chóc, hoang tàn trên thế giới chưa biết bao giờ kết thúc, nhiều thế lực đã và đang mưu toan vẽ lại bản đồ thế giới. Tuy nhiên, ngay cả với những dân tộc, với tư cách quốc gia không còn hiện hữu nhưng ký ức về dân tộc đau thương của những cộng đồng dân cư đó, không bao giờ mất đi.
Có thể thấy ở người Palestine ở Trung Đông, với người Kurd ở Tây Á….
Ký ức cá nhân nằm trong ký ức dân tộc, là một thành tố của ký ức dân tộc.

Đọc tập “Con đường cổ tích” của nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu, càng khẳng định rằng, ký ức sống của mỗi người luôn có sức sống mãnh liệt, và đó là vẻ đẹp luôn hiện hữu, làm đẹp thêm cuộc sống, vốn không thiếu nhọc nhằn. Trong tâm hồn Phạm Thị Hồng Thu có một “con đường” của những “cổ tích”.
Phạm Thị Hồng Thu là tác giả thơ, Hội viên chuyên ngành thơ Hội Nhà văn Hà Nội. “Con đường cổ tích” là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của chị. Tập sách phong phú về nội dung, gồm 35 bài, mỗi bài là một “bức họa bằng chữ ” trên những con đường hiện sinh mà chị được rong ruổi.
*
* *
Phạm Thị Hồng Thu sống và viết tại Hà Nội. Hà Nội từng là Kinh đô của các Nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam, là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội, hơn 1000 năm qua đã trở thành vùng văn hóa. Hà Nội đẹp, hào hoa, ngàn năm văn vật.
Hiển nhiên, vùng đất đó là đối tượng nghệ thuật của sáng tạo. Hà Nội trở thành đề tài của các loại hình văn học nghệ thuật, từ cổ chí kim, từ trước đến nay. Trong 34 tỉnh, thành phố trên cả nước, Hà Nội vẫn là “number one” – địa phương có nhiều ca khúc và là những ca khúc hay nhất, từ âm hưởng sử thi đến trữ tình.
Là người viết, Phạm Thị Hồng Thu “không cưỡng” lại được trước vẻ đẹp của Hà Nội. Chị dành cảm xúc cho Hà Nội trong nhiều trang viết. Có thể nhận ra “tiếng nói” của ký ức chị trong “Con đường cổ tích giữa lòng Thủ đô” – viết về đường Phan Đình Phùng, “Check in ở Hồ Tây”, “Sen Tây Hồ thăng hoa”, “Yêu Hồ Tây”, “Nét cổ ở làng cổ Đường Lâm”, “Tàu điện ngày ấy, bây giờ”, “Đường Láng tôi yêu”, “Yêu say mùa thu Hà Nội”.
Phạm Thị Hồng Thu có sự quan sát tinh tế hiện thực. Hay nói cách khác, hiện thực được nhìn, ghi nhận bằng mắt, khúc xạ qua tâm hồn trở thành hiện thực trữ tình trong văn bản văn học.
Viết về con đường Phan Đình Phùng (Hà Nội) – con đường đẹp bốn mùa, “Con đường này vào mùa nào cũng đẹp, cũng thật lãng mạn, mộng mơ”, nhưng đường Phan Đình Phùng của mùa thu vẫn là thời điểm đẹp và lãng mạn nhất: “Sang thu, không khí Hà Nội đã bớt oi nồng, ở đây lại càng mát mẻ, những thảm lá vàng mỏng nhẹ lại rải lên mặt phố. Nắng vàng rót mật hòa trong gió heo may như quyện bước chân người. Những tia nắng vàng ấy cứ nhảy nhót lên tóc, lên má những người mẫu không chuyên, làm sáng bừng khuôn mặt xinh tươi. Mùa thu là mùa đẹp nhất nên con đường Phan Đình Phùng vào thu cũng quyến rũ nhất. Hút nhiều người đến đây check in nhất”.
Văn đẹp ở tả. Con đường Phan Đình Phùng mùa thu qua ngòi bút Phạm Thị Hồng Thu như “bức họa bằng chữ”.
Còn trong tác phẩm “Đường Láng tôi yêu”, Phạm Thị Hồng Thu viết về con đường rợp bóng xà cừ có đến trăm năm tuổi: “Thật lạ, khác với nhiều loài cây sang thu chuyển màu, cây xà cừ lại rất đặc biệt, cứ đến cuối xuân mới lác đác rụng lá để chồi non đón nắng đầu hè. Vàng rụng đến đâu mơn xanh đến đó, tạo thành các mái lá đốm gam màu rất đẹp. Gió nhè nhẹ đưa lá đậu trên xe, trên mũ, trên tóc người qua. Rồi khi cơn gió mạnh chợt ào đến, rắc xuống cơn mưa vàng mê đắm. Nhưng cũng thật thương các chị lao công, lá nhiều thế, hàng ngày quét dọn thật vất vả. Và cũng thương cây, cây cũng trải qua một hành trình gạn lọc, rời cũ thay mới.
Hàng cây ấy có vẻ đẹp từ chiêm nghiệm của tác giả Phạm Thị Hồng Thu: “Một đời lá, cây đã chắt chiu, ôm ấp, nâng niu, ủ dòng sữa, chăm cho búp nõn cứng cáp, mướt xanh. Trải qua những cơn mưa ầm ào, những tiếng sấm vang trời, những trận gió bão ngả nghiêng quăng quật cành lá thường vào cuối hạ, đầu thu và cả những đợt giá buốt xám xịt của mùa đông, vậy mà cây vẫn đó, ngạo nghễ đứng vững bên đường”.
Nhà triết học cổ điển Đức (1770 – 1831) trong tác phẩm Mỹ học đưa ra quan điểm tác phẩm là sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức. Nội dung quyết định hình thức. Hình thức được tổ chức để biểu hiện nội dung. Đây cũng là biện chứng của cặp phạm trù “Nội dung và hình thức” theo triết học duy vật.
Đọc tác phẩm của Phạm Thị Hồng Thu cho thấy, quan niệm của Hegel là nội dung là nội dung của hình thức; ngược lại hình thức là hình thức của nội dung. Không có nội dung nào không có hình thức cũng như không có hình thức nào không có nội dung. Chị yêu Hà Nội không chỉ ở vẻ đẹp mà bằng cả tấm lòng.
Phạm Thị Hồng Thu không chỉ lãng mạn trước cảnh đẹp của đất trời, trong “Con đường cổ tích”, chị còn viết về đề tài lịch sử, truyền thống, kể cả đề tài hậu chiến, những day dứt khôn nguôi trước những vấn đề do chiến tranh – dù đã qua hơn 50 năm, nhưng còn để lại những “vết sẹo” trong tâm hồn.
Có thể thấy mảng đề tài này qua các tác phẩm: “Những chuyện lạ trên đường hành hương”, “K9 Đá Chông không nguôi thương nhớ”, “Tâm tư anh linh của những người đã ngã xuống”, “Lũy thép pháo đài Đồng Đăng bất tử”, “Hành trình tâm linh miền biên viễn – chuyện lạ có thật”, “Bạch Đằng Giang muôn đời lộng gió”, “Xanh mát Trường Sơn Đông huyền thoại”, “Mãn nhãn với Triển lãm Kim Quy”…
Trong một số tác phẩm, nhà văn Phạm Thị Hồng Thu nói đến một hiện thực tâm linh mà khoa học chưa giải thích được. Đó là vong. Dẫu khoa học tâm linh đã được công nhận là một chuyên ngành khoa học của lý số, nhưng biết bao câu hỏi ngoài cuộc đời vẫn là những ẩn số.
“Đến cụm di tích bến Ô Lâu, cầu Mỹ Chánh, đoàn đang sắp lễ thì anh linh một anh bộ đội nhập vào một chị trong đoàn. Anh ôm chiếc mũ cối và khóc nức nở, nghẹn ngào: Anh cảm ơn các em! Các em đã biếu các anh đồ thật. Anh thèm được mặc quân phục mới, đội mũ mới. Người ta toàn biếu đồ hàng mã làm sao các anh mặc được. Thương quá là thương!”
“Trên đường về chúng tôi dừng xe ăn cơm trưa ở Quỳnh Lưu, anh linh một anh bộ đội đi theo đoàn nhập vào một cô. Anh rất vui, anh động viên mọi người uống bia và hát. Anh hát, anh cười, anh nói thật vui. Anh lên xe theo chúng tôi về Hà Nội, suốt chặng đường dài anh thích nghe hát. Đoàn hát tập thể, đơn ca, song ca liên tục đến gần điểm cuối anh mới chia tay. Anh chào tạm biệt mọi người mà quyến luyến không muốn rời”.
“Trong chuyến đi này tôi cũng muốn nhắc đến một câu chuyện tâm linh mà đoàn chứng kiến. Đoàn đi vào theo đường quốc lộ 1, đi ra theo đường mòn Hồ Chí Minh, xe đang bon bon ở đoạn Quảng Bình tự nhiên hụt hơi không thể chạy được, xe bị hỏng một bộ phận nho nhỏ. Điều đáng kể là xe hỏng ngay sau khi một chị trong đoàn ở Nga về, vừa kể cho chị trưởng đoàn nghe câu chuyện về cô gái Việt cùng làm với chị bên Nga bị đột tử. Cô ấy hiện về luôn và nhập vào một cô trong đoàn. Cô đói quá, mệt lả, mọi người lục tìm sữa, cô uống liền hai hộp. Một lúc tỉnh, cô nói: Cháu rất buồn, cháu chưa siêu thoát được, cháu xin cô (ở Nga về) 500.000 đồng để nhờ cô trưởng đoàn cúng cho được siêu thoát. Cô cảm ơn rất nhiều. Cậu tài xế chỉ băng bó chỗ hỏng sơ sài vậy mà xe vẫn chạy được cả trăm cây số đến tối mới đi tìm chỗ sửa”.
Những đoạn trích này trong tác phẩm “Tâm tư anh linh những người đã ngã xuống”. Những câu chuyện có màu sắc huyền bí này người đọc còn có thể gặp ở một số tác phẩm khác trong tập “Con đường cổ tích” như “Lũy thép pháo đài Đồng Đăng bất tử”…
Dân gian thường nói và câu cửa miệng “Chết mới hết chuyện”, nhưng hiện thực là “chết đâu đã hết chuyện”. Cũng kinh nghiệm tâm linh, cổ nhân đã dạy: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.
Hiện thực tâm linh dù có nhiều người chưa được chứng kiến, nhưng qua tác phẩm của Phạm Thị Hồng Thu, sự việc như một “ẩn dụ” gửi đến một thông điệp: Còn rất nhiều vấn đề hậu chiến phải quan tâm; còn khá nhiều linh hồn những người lính đã ngã xuống trên mảnh đất thấm máu của chúng ta, còn chưa được siêu thoát, họ vẫn lẩn khuất đâu đó để nói với con người hôm nay rằng: Nhiều số phận, nhiều cuộc đời cần phải được sẻ chia, dẫu dưới góc độ tâm linh.
Là nhà thơ nữ, sức “liễu yếu đào tơ”, nhưng Phạm Thị Hồng Thu là người chịu khó “xê dịch”. Bàn chân chị đã rong ruổi khắp nhiều vùng của đất nước. Những chuyến đi ấy mang lại cho chị vốn sống và làm bật lên cảm xúc. Có thể thấy qua đề tài về biên giới, hải đảo, các sắc màu dân tộc qua những trang viết, qua những tác phẩm:
“Xuân ước mơ của người Mông ở bản Rừng Thông”, “Huyền bí và độc đáo Lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn”, “Dọc bánh tàu quay”, “Đón Tết sớm của người La Hủ ở Mường Tè”, “Sắc màu miền biên viễn”, “Rưng rưng những cột mốc số 0”, “Rực rỡ sắc màu Mộc Châu”, “Thương quá Keng Đu”, “Săn biển mây sơn tra”, “Chinh phục Mũi Đôi gian nan mà hấp dẫn”, “Khám phá Thiên Nam đệ nhất trụ”, “Say miền hoa đá”, “Về thăm Đất Mũi Cà Mau”.
Ở tuổi “chín” về năng lượng, không còn trẻ về tuổi tác, dường như Phạm Thị Hồng Thu đã gặp “căn” để viết về Phật tính. Màu sắc Phật giáo được thể hiện qua các tác phẩm: “Hành trình tâm linh miền biên viễn”, “Theo dấu chân Phật Hoàng”…
“… lên đến chùa Đồng ta mới thấy mình thực sự đến với cửa Phật, đến với miền thanh tịnh vô biên. Ta trào dâng cảm xúc xúc động, lâng lâng hạnh phúc. Ta được thả hồn với trời mây, với Phật. Ta được phóng tầm mắt ra xa, thấy vịnh Hạ Long thấp thoáng mờ xanh, thấy đất nước mình đẹp hơn tranh. Ta được hít vào lồng ngực những luồng khí trong lành, linh thiêng. Ta như đang trở về cõi xa, thấy trong rừng trúc xanh xanh ngút ngàn thấp thoáng bóng áo cà sa, xa là các nàng cung nữ đang quỳ gối, có lẽ các nàng đang cầu xin nhà vua trở về chốn Hoàng cung trị vì đất nước. Và có lẽ các nàng cũng đã quen hơi nên khó thể rời xa”, (Theo dấu chân Phật Hoàng).
Là người Việt Nam nói chung, là Phật tử nói riêng phải hành hương về Ngọa Vân và Yên Tử – hai nơi được xem là “đất Phật”, “kinh đô” của Phật giáo Trúc Lâm, không chỉ để hiểu thêm về văn hóa, tâm linh mà còn giúp mình giác ngộ, hóa giải.
*
* *
Sẽ có người hỏi: Phạm Thị Hồng Thu là một nhà thơ, vậy “Con đường cổ tích” là thể loại văn học gì? Dù độ dài và ngắn giữa 35 tác phẩm khác nhau; có những tác phẩm chỉ 802 chữ, như “Theo dấu chân Phật Hoàng” nhưng cũng có những tác phẩm “đầu tư cảm xúc” kỹ lưỡng như “Đường Láng tôi yêu” hơn 2.300 chữ.
Tuy nhiên điều quan trọng là cách chuyển tải nội dung và hình thức, tư tưởng tác phẩm. “Con đường cổ tích” là tác phẩm văn xuôi đầu tay của Phạm Thị Hồng Thu, nhưng đó là tác phẩm của thể loại ký văn học.
Bản chất văn học là sự diễn ngôn. Nghệ thuật diễn ngôn là cách chiếm lĩnh những giá trị tinh thần mang ý nghĩa nhân sinh. “Con đường cổ tích” của Phạm Thị Hồng Thu đã ghi chép sự việc, nêu lên tính xác thực của sự việc – đây là đặc trưng cơ bản nhất của ký văn học. Tất nhiên, ký có một phạm vi rất rộng, ngoài các thể loại cổ hiện không được nhắc đến như ngữ lục, tạp lục, tiệp bút… đến những thể loại đang hiện diện trong đời sống văn học như truyện ký, sử ký, ký sự, phóng sự, tùy bút…
Có lẽ, Phạm Thị Hồng Thu, vốn là nhà thơ, với những cảm xúc lãng mạn, ưa thích ngôn ngữ mang tính ẩn dụ; lần này do sự “thôi thúc” của cuộc sống, chị đã tiếp cận với văn xuôi. Thường những người mới bước vào văn xuôi, “cây bút” họ tiếp cận ngay với ký và truyện ngắn.
Xin chúc mừng tác giả Phạm Thị Hồng Thu!
Hà Nội, ngày 22/5/2026
Nhà thơ Ngô Đức Hành
(Hội Nhà văn Việt Nam)

Bài viết liên quan
LỜI THÌ THẦM CỦA LƯƠNG TRI
Tác giả Nguyễn Thế Minh Đó là lời tâm sự thì thầm của. . .
Th10
BÙI THANH HÀ và những khúc ru mùa chữ
1. Thi ca thói thường vốn ưa sự phóng khoáng, tự do, độc lập của. . .
Th10
KHÚC THIÊNG CA CÒN NGÂN MÃI
Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên (Hội Nhà văn Việt Nam) Nhà thơ Phạm. . .
Th10
DÀO DẠT MỘT NGUỒN THƠ DƯỚI MÁI ĐỜI TRUNG HẬU
Nhà thơ Nguyễn Mạnh Chu (Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội) 1. Tôi. . .
Th10
ĐẶNG VĂN CHƯƠNG – Lặng lẽ những mạch chiều
Nhà thơ Đặng Văn Chương (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) 1. Trong cõi. . .
Th10
ĐẶNG VĂN CHƯƠNG – CÂU THƠ ANH SANG CHẤN MỘT ĐỜI
Nhà thơ Đặng Văn Chương Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam . . .
Th10