DÀO DẠT MỘT NGUỒN THƠ DƯỚI MÁI ĐỜI TRUNG HẬU

Nhà thơ Nguyễn Mạnh Chu

(Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội)

 

1.

Tôi gặp và đọc thơ của Kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Chu từ những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Hồi ấy, thơ ông xuất hiện nhiều trên các tuyển thơ in chung. Giai đoạn 2000 – 2010 là thời điểm vàng cho các nhà sách, các công ty sách, các soạn giả sách … tổ chức in ấn và phát hành những tuyển tập văn chương, đặc biệt là thơ!

Thời gian ấy, tôi tá túc tại tầng 5 trong tư gia nhà văn Đặng Khánh Cường, ở khu ven bờ sông Tô Lịch, đoạn Cầu Lủ – Hà Nội (chỗ đường Vũ Tông Phan bây giờ). Năm ấy tôi và các đồng sự đang thực hiện 2 tuyển thơ  là “Thơ với ngàn năm” và “Trường Sơn một thuở”. Tôi tiếp KTS Nguyễn Mạnh Chu ở đấy, khi ấy ông trực tiếp mang tới một chùm bản thảo thơ của ông và nhà giáo Bùi Thị Hạnh (vợ ông) để tham gia vào hai tuyển thơ kia! Trò chuyện cùng ông, đọc thơ ông, thấy ông là người cẩn trọng về chữ nghĩa và rất chịu “nghe”, chịu đọc người khác để làm mới, làm đầy, làm rộng thêm cho miền thơ của mình!

Năm 2005 Nguyễn Mạnh Chu xuất bản tập thơ Thời gian & Tình yêu tại Nhà xuất bản Công an Nhân dân, (cần nhớ rằng, hai mươi năm trước, để được xuất bản sách riêng tại NXB CAND là không hề dễ). Cặm cụi cùng câu chữ tròn hai mươi năm sau, giờ đây ông cho xuất bản tập thơ Nắng cõi nhân gian, đây là ấn phẩm thơ thứ bảy của đời ông! Hiện nay, ông và Nhà thơ Bùi Thị Hạnh (vợ ông) đều là hội viên của Hội Nhà văn Hà Nội.

2.

Thơ của KTS Nguyễn Mạnh Chu là thơ của những dãi bày, chia sẻ, là câu chữ được sinh ra từ nguồn mạch cảm thức về quê hương, đất nước và cuộc sống. Hai mươi năm quen biết với ông, đọc thơ ông, ít thấy cái chuyển động, cái khác biệt về hình thức và câu chữ thơ ông, nhưng cái tình thơ, cảm xúc thơ của ông với quê hương, đất nước, với cuộc đời này thì luôn nhất quán và ngày thêm dào dạt!

Cảm nhận trên đây, chẳng phải do tình bạn vong niên thân thiết giữa tôi và ông đã tự kiến tạo nên. Xin dẫn vào đây một số ý kiến của các nhà thơ, nhà phê bình đã viết về thơ Nguyễn Mạnh Chu.

“Thơ Nguyễn Mạnh Chu thiên về tâm trạng. Anh là một Kiến trúc sư, cái nghề đòi sự khám phá, tìm tòi để làm đẹp thêm cho cuộc sống… Thơ anh là sự tìm tòi theo chiều sâu của con người”. (Nhà thơ Tạ Hữu Yên).

“Thành công của thơ Nguyễn Mạnh Chu là cách tác giả kết hợp hài hòa cảm xúc của thi nhân với cách nói khơi gợi, kiệm từ của người làm công tác khoa học tự nhiên.” (Nhà thơ Vương Trọng).

“Anh tả Hà Nội lúc anh đang đi trên đó mà xao xác nỗi nhớ Hà Nội: “Mặt người đầy hương cũ/ Ngả đường nào cây bàng xưa lá đỏ”. Thơ anh đang hay lên vì anh đã gửi vào đó ngày một nặng thêm nỗi lòng anh”. (Nhà thơ Vũ Quần Phương).

Quả là vậy, thơ Nguyễn Mạnh Chu viết từ hai ba mươi năm trước đã đặt nặng vào trong lõi chữ là những tâm tình, chia sẻ:

– Người đi góc bể chân trời/ Trắng sương bạc gió phai phôi/ Miền xưa tuổi thơ bừng thức/ Xanh về thương nhớ khôn nguôi. (Về Cẩm Thủy).

– Mẹ về cực lạc cõi tiên/ Sâu ba tấc đất, truân chuyên vẫn còn. (Viếng mẹ),

Câu chữ trong thơ ông cứ dung dị, cứ mộc mạc thế, mà lại lay gợi được hồn người, ấy là nhờ bởi cái tình thơ chảy trong mạch chữ chân chất và nồng ấm.

– Em đến chùa Dâu/ Anh lại về Bút Tháp/ Em qua Phật Tích/ Anh tìm em sang mãi Thuận Thành/ Về Đông Hồ giấu mình vào tranh/ Chờ em đến thành đôi Quan Họ. (Quan họ).

Trong nghề thơ, để sáng tác theo kiểu tức cảnh sinh thơ, thấy gì viết đấy thì không khó, nhưng ý thức sáng tác để hình thành nên cái mạch, cái tạng thơ riêng của mỗi người thì là rất khó, cái ấy thuộc về tư tưởng, nó xác định tính chuyên nghiệp của một nhà thơ. Với Nguyễn Mạnh Chu, từ cái tạng chữ dung dị, chân chất nhưng bởi ông đã dùng đúng nấc, ngắt đúng điểm, để những câu chữ đời thường chuyển loại thành ngôn ngữ thơ trong suốt hai mươi năm qua, ấy chính là sự lao động nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp và xuyên suốt.

Đường quê thấp thểnh bước chân/ Mẹ đi nát bụi chợ gần chợ xa/ Quang nghiêng, vai lệch chiều tà/ Bóng Người xa khuất, con nhòa mắt trông. (Đường quê).

Nguyễn Mạnh Chu sinh ra tại làng Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, cuộc đời ông trưởng thành cùng những đổi thay theo tầm vóc của Hà Nội. Đọc thơ ông, gặp những hình ảnh, những địa danh của một Hà Nội thăm thẳm với hương lúa bờ tre kẽo kẹt ru mùa cổ tích:

Có ai về Tương Mai/ Cho tôi theo đàn chim bay tràn cánh Dộc/ Xác rắn vắt bờ tre/ Con cuốc ào bay mất/ Ao Mẫu Tám vẫy vùng trong mát biếc hồn quê. (Về Tương Mai).

Ngôi làng Tương Mai của ông ào ạt biến cải cùng cơn phố hóa, những trong trẻo, êm đềm xưa giờ chộn rộn những nhọc nhằn. Phố đã cắt vụn một miền quê thành các hình khối bon chen và khói bụi. Phải ở lớp người đã được đẩy từ hương đồng cổ tích về bụi phố hiện đại, mới ngấm ngả những nuối tiếc ngậm ngùi trải dọc mạch chữ của Nguyễn Mạnh Chu dành cho cái hồn quê đã mất.

Đất làng khát cháy… đây thôi/ Mà ngơ ngác, mà như vời vợi xa/ Tìm đâu lối cũ cây đa/ Hàng cau bóng ngả, nếp nhà tường vôi/ Ngút cao lầu dựng ngang trời/ Tìm nhà, nhà lạ. Hỏi người, người xa/ Chân đeo đá, bước nhập nhòa/ Hồn tôi lạc giữa quê nhà… Về đâu. (Về đâu).

Tìm hiểu về thơ Nguyễn Mạnh Chu, nhận ra nguồn mạch thơ ông hoàn toàn tự nhiên, tự tại, nó như là một phần mặc định để hình thành nên con người ông. Ngôn ngữ thơ ông đi từ sự dung dị của cõi người đến sự dung dị mà hàm ngôn của cõi thơ!

Tha thẩn bên hồ, bố mẹ tựa vào nhau/ Nghe mỏi bước trĩu bờ vai tuổi tác/ Hun hút gió phía sông Hồng man mác/ Con thuyền xuôi biển gọi chân trời. (Nói với con phương xa)

Những câu thơ trên là tiếng lòng từ mái đời riêng vọng vào cõi thơ ông. Bài thơ ấy ông viết cho người con trai lớn của ông đang lập nghiệp ở cách nửa vòng trái đất!

Cái nết chữ, cái lối lập ngôn dung dị, mộc mạc mà dẫn động ấy, đã thành đường thành lối, đưa mạch nguồn cảm xúc thơ ông chảy vào cuộc sống này!

Ngỡ ngàng em mắt lá răm/ Tứ thân lúng liếng Ba Tầm nghiêng chao/ Lưng ong thơm óng yếm đào/ Tương phùng tương ngộ, tình trao tâm tình./ Tưởng nhòa vào sắc trúc xinh/ Se se hơi gió nỗi mình… lạc xuân/ Ới a… bỗng đổ lệch vần/ Muốn ôm cả núi Hồng Vân mà về. (Tìm về câu hát ngày xưa).

3.

Người làm thơ, chắc chả mấy ai “thuận số thơ” như Nguyễn Mạnh Chu, cái thuận số này không phải bàn về thiên tư hay ngôn ngữ thơ, mà ở chính mái đời thơ mà nhà thơ Bùi Thị Hạnh (vợ ông) đã cùng ông tạo dựng! Vài chục năm trở lại đây, bạn thơ của ông đã quen lắm với hình ảnh ông đèo bà trên chiếc xe cup82 Nhật cũ, chạy ngang dọc khắp các ngõ thơ của đất Hà thành.

Sự đồng điệu, đồng cảm từ cả mái đời và mái thơ đã đưa ông bà thong dong khắp nẻo cùng thơ. Ông đi và viết bằng sự trải nghiệm thực tế, bằng góc nhìn của riêng mình:

Anh và em xuống chợ/ Mỗi tuần có một ngày say/ Rượu đong nắng đong mây/ Đầy hương ngô hương lúa/ Men ủ lá rừng cất từ hồn bếp lửa/ Khát tình đôi lứa thương nhau/ Phạt rừng oằn dao/ Xới cây vẹt cuốc/ Cả sáu ngày trần lưng tối mặt/ Mỗi tuần có một ngày say! (Mỗi tuần có một ngày say).

Những cảm xúc từ mái đời thấu lộ sang mái thơ của ông nhiều lắm. Đây, chỉ mấy đêm xa trong một trại sáng tác, mà câu chữ của ông viết về bà như thế này.

Tam Đảo nhập nhòa thảng thốt tiếng chim/ Lá đổ vàng nỗi nhớ/ Xa em sương đầm vuông cửa/ Chăn lệch giường suông đêm/ Hà Nội trở mình ngời ngợi trăng lên/ Em quờ tay động miền trống vắng. (Đêm sương).

4.

Những câu thơ trên đây, được chúng tôi trích dẫn từ các tập thơ in dọc con đường thơ của Nguyễn Mạnh Chu trong suốt hai mươi năm qua. Đến với thơ theo chiều sâu, tôi thường tự nhủ mình: Phải dò từng mạch chữ qua cả một quá trình sáng tác của tác giả, mới mong tìm được một định danh khả dĩ nhất cho nguồn thơ mà mình đang tiếp cận!

 

Đọc thơ Nguyễn Mạnh Chu đến ấn phẩm Nắng cõi nhân gian của ông xuất bản năm 2026 này, vẫn là những mạch chữ dung dị và gợi mở được khởi lên từ mấy mươi năm trước, vẫn là những cảm xúc thơ dào dạt nỗi đời, nỗi người. Nhưng cái quý hơn, cái cần ghi nhận thêm là ở chỗ thơ ông bây giờ câu chữ cô đọng hơn, kiệm chữ hơn, ít bị chi phối vào hình thức và vần điệu truyền thống mà ý tứ thơ lại gợi mở hơn.

Cơm áo gập ghềnh bước mỏi chông chênh/ Hoa trái tươi xanh cây đời muôn sắc/ Xin buông bỏ để ngày qua xa khuất/ Thay đáy mắt rồi trời đất sáng trong hơn. (Vừa thay đáy mắt).

Con đường thơ của Kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Chu là một duyên nghiệp được hình thành bằng sự nỗ lực, nhất quán và bền bỉ. Ông nhất quán và chung thủy với chất truyền thống, với nhịp điệu thơ, với cách lập tứ, với cách sử dụng câu chữ trong trẻo, chuẩn mực mà gợi mở. Đây là những câu thơ ông viết ở tuổi ngoại tám mươi:

Anh đến tìm em đêm Mộc Châu/ Căng áo cóm váy xoay tròn thổ cẩm/ …/… Rừng núi reo ca ánh trăng ngời sáng/ Ngây ngất cây đời thức gọi bình mình/ Anh đến cùng em, chân thật như đêm…(Đêm Mộc Châu).

Mạch chữ mạch đời giao thoa trong những sáng tác của Nguyễn Mạnh Chu, góp phần tạo nên nét đặc trưng của thơ ông. Đọc nhiều bài thơ ông viết, ngỡ như ông chỉ là người chép lại những câu thơ ứa lên từ những trang đời ông đang mở:

Ơi nhà! Thấm đẫm tình em/ Hoa bừng sắc nở gió bình yên/ Thần tiên như lụa hương cổ tích/ Nghe nắng chan hòa ran tiếng chim. (Nhà đang có em).

 

5.

Đọc cả một miền thơ, đôi khi ấn tượng về thơ đọng lại trong ta, chẳng phải ở bút pháp mới lạ, cũng chẳng phải ở cái ý tứ vượt thoát của tư tưởng hay ngôn ngữ thơ! Mà cứ thấy trong những trang thơ đoan trang, dung dị ắp đầy cảm xúc yêu đời, yêu người, cùng những bình yên từ tâm thế cõi người nồng ấm trổ lên từng vuông chữ. 

Như nhà thơ Nguyễn Mạnh Chu, dưới mái đời trung hậu là một nguồn thơ luôn dào dạt niềm yêu! Với thơ, với đời thế là một thành công vậy!

Hà Nội, giáp tết 2026

Nguyễn Thế Kiên – Kienlucbat

Bài viết liên quan

LỜI THÌ THẦM CỦA LƯƠNG TRI

Tác giả Nguyễn Thế Minh     Đó là lời tâm sự thì thầm của. . .

BÙI THANH HÀ và những khúc ru mùa chữ

1. Thi ca thói thường vốn ưa sự phóng khoáng, tự do, độc lập của. . .

KHÚC THIÊNG CA CÒN NGÂN MÃI

  Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên (Hội Nhà văn Việt Nam)   Nhà thơ Phạm. . .

Phạm Thị Hồng Thu và “CON ĐƯỜNG CỔ TÍCH”

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: Người. . .

ĐẶNG VĂN CHƯƠNG – Lặng lẽ những mạch chiều

Nhà thơ Đặng Văn Chương (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) 1. Trong cõi. . .

ĐẶNG VĂN CHƯƠNG – CÂU THƠ ANH SANG CHẤN MỘT ĐỜI

Nhà thơ Đặng Văn Chương Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam      . . .