
Nhà thơ Đặng Văn Chương
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Có những cây viết miệt mài đi, miệt mài ghi nhớ, giữ nguyên ngọn lửa đam mê mang về từ mọi nẻo đường, rồi như một cử chỉ ân nghĩa với cuộc đời, bằng cách qua ngôn từ, biến những ký ức ấm nóng từ ngọn lửa đam mê ấy thành những dòng thơ mang đậm dấu ấn của mình. Thơ ấy hình thành từ cuộc đời, khi cuộc đời đã để lại những xúc động trong tâm hồn, từ đó thơ cũng trở thành tiếng lòng đầy sức lan tỏa. Tập thơ Trong khóm đêm già của nhà thơ Đặng Văn Chương cho ta cảm giác ấy.
Một lần về từ Yên Bái, Đặng Văn Chương giữ mãi những ấn tượng xúc động về một vùng đất bất chợt đi qua. Đúng là năm tháng có thể trôi đi, nhưng ký ức thì ở lại, một ký ức rất đẹp từ vùng cao: Làn nắng trên những khúc đường núi, một mùa hương nếp nương thơm thảo, một sắc mây màu thổ cẩm rực rỡ và hoa lá “trập trùng” của Lục Yên, Nghĩa Lộ… Tất cả làm nên “ký ức vùng cao… còn chưa hết rưng rưng” của Đặng Văn Chương:
Nắng Lục Yên bén đường Nghĩa Lộ/ Em gùi mùa, hương nếp nương bay/ Mây thổ cẩm choàng ba đỉnh gió/ Trưa trập trùng hoa lá nghiêng say/ …Ai biết màu mây ngày gặp lại/ Yên Bái tôi còn chưa hết rưng rưng. (Yên Bái)
Một lần Đặng Văn Chương “như đắm mình” trên vùng cao mây nước Sông Đà: Ánh mắt em nhìn tôi lạ lắm/ Đã như xanh gió tự bao giờ… Tôi nợ sông dập dềnh con nước/ Sông nợ tôi phía đuôi mắt em cười:
Em điệu đàng/ Thung Nai, Bản Lác/ Mường Bi cười/ Ai dốc rượu Mường Vang// Tiếng em hát Sông Đà dậy sóng/ Làm tôi nghiêng ngả một thu này. (Chợt thu)
Những ký ức Sông Đà chếnh choáng mùi men, ánh mắt… này hình như có sức lan tỏa, mời gọi người đọc, kéo họ ra khỏi cuộc sống thường ngày, đánh thức bước chân giang hồ trong họ. Câu chữ của Đặng Văn Chương thường nhuốm màu khêu gợi, và từ khêu gợi thường dẫn đến những cuộc “ra đi”, ra đi trong tâm tưởng, tưởng tượng… Và ra đi trong khát khao trải nghiệm!
Cũng với một tâm thế đắm đuối với cảnh, với người nơi mới đến, một lần đến Huế Cầm lời sóng nổi nênh cửa bể/ Không đủ thương một Huế đêm này, Đặng Văn Chương vượt qua tả cảnh để đi tới những câu thơ biểu hiện. Thơ có thể tả cảnh, nhất là những nơi nhiều cảnh đẹp như Huế. Nhưng sứ mệnh của thơ là qua cảnh để nói tình. Cảnh thì ai cũng nhìn thấy, ai cũng nói được, nhưng tình thì khu biệt, mỗi trái tim có một nhịp đập, vì thế mỗi ngòi bút có một bí mật: Thuyền ai neo đêm vào Đập Đá/ Đông Ba mắt người lắc thắc mưa
Câu thơ Thuyền ai neo đêm vào Đập Đá như vẫn còn chưa ra khỏi sự tả cảnh. Nhưng Đông Ba mắt người lắc thắc mưa thì đã có tình, ở đây là chút ái ngại, chút thương cảm, chút thảng thốt chen trong chữ. Nó đủ làm cho chủ thể trở nên “lơ ngơ”:
“Lơ ngơ tôi một thời tím Huế/ Đem bỏ quên phía Ngã Ba Sình/ Bến Văn Lâu còn rưng mắt lệ/ Bao giờ con sóng cũ hồi sinh?” (Đêm Huế)
Một chiều mùa thu Vạn Phúc, ngôi làng nổi tiếng ở ngoại ô Hà Nội, Đặng Văn Chương không chỉ bị mê hoặc bởi sắc thu, mà quanh anh là những bóng người “xúng xính” xiêm áo làm nên một “mê lộ” trong tâm tưởng:
Em giấu gì/ Qua màu thu ấy/ Lụa Vạn Phúc/ Xúng xính lối về// Ngôn từ chuồi bên dốc/ Khuya giật mình / Ai nhặt bóng đường mê . (Đường mê)

Bên những vùng đất ghi dấu bước chân của tác giả, thơ Đặng Văn Chương dày đặc những ngôn từ biểu cảm, gây ấn tượng bằng ngôn ngữ đời sống đã được chọn lọc. Anh cố gắng tránh lối diễn đạt thông thường để vươn tới những câu thơ ẩn dụ, nối dài suy nghĩ của người đọc, tăng thêm “nghĩa” của câu thơ, mở ra không gian ngoài ngôn từ, những Chiều hạt dẻ, Giọt thu rơi, Rằm mắc cạn, Chiều đất lở… rất gợi cảm:
Dùng dằng cắn vỡ chiều hạt dẻ/ Giọt thu rơi chẳng thể cầm về/ Ai biết được nẻo nào nắng xế/ Vuông rằm mắc cạn giữa bùa mê/ / Biên cương bạc màu tôi áo lính./ Vòm thu em chân sáo qua cầu // Rùng rùng dưới chân chiều đất lở/ Mai Lĩnh tôi về trắng bờ mưa. (Vòm thu)
Thơ đôi khi là những ẩn ức dại khờ thường gặp phải thời tuổi trẻ, vì mấy ai đã kịp lớn khôn khi tuổi đời còn rất trẻ. Có thể là mối tình đầu, đi qua bao năm và khi tuổi đã lớn mới thấy mất mát, mới thấy đã trôi qua không bao giờ trở lại, biến thành một “món nợ” tiếc nuối, băn khoăn đối với biết bao người. Đặng Văn Chương có những vần thơ biểu hiện sự tiếc nuối, băn khoăn đó:
Tôi nợ em năm mười tám tuổi/ Chiều gió rơi bối rối sau nhà/ Tôi nợ em năm mười tám tuổi / Mắt xanh trời biên giới tôi đi// Tôi nợ em năm mười tám tuổi/ Cơn đằng đông chớp lóe chập trời. (Khuyết một vầng tôi)
Cho dù quá vãng đã thành “món nợ” định mệnh mang theo suốt đời, nhưng ai biết được nếu có một sự “trở lại” trong muôn một nào đó, chắc gì mọi sự sẽ trở nên “xuôi chèo mát mái”:
Nếu như, nếu như/ Thời gian quay trở lại/ Chuyện mình / Vẫn đau thế thôi em/ Một nửa gió buông rèm mãi mãi/ Một nửa còn sóng vỗ đầy đêm. (Sóng vỗ đầy đêm)
Đấy thôi, mọi thứ có thể qua đi, nhưng những “sang chấn” tinh thần thì như vẫn còn mãi với thời gian:
Chẳng cùng nhau trên đường xưa nữ/ Thắc thỏm xa/ Biết đã xa rồi/ Ô Đồng Lầm ngồi nghe lá đổ/ Cổng Trắng vàng chiều/ Thu chảy qua tôi . (Ô Đồng Lầm)
Em đi ngày ấy lạnh sang mùa . (Bóng cũ)
Người đi năm tháng cũng đi rồi . (Ngoài cánh cửa)
Nôn nao chiều xanh quán trọ/ Thổn thức người hút bóng vào khuya. (Nhặt trăng)
Để làm vơi bớt nỗi niềm của dĩ vãng, Đặng Văn Chương bày tỏ bằng những câu thơ “day dứt”:
Day dứt cả một triền dĩ vãng/ Cuộc tình nào hóa sóng xa xôi/ Tiếng hát em nát lòng dang dở/ Câu thơ anh sang chấn một đời. (Sóng vỗ đầy đêm)
Thơ là tiếng nói của tình cảm. Không có nhà thơ nào không đa cảm. Đặng Văn Chương cũng vậy. Anh đi nhiều, gặp nhiều, cảm nhiều:
Một lần ở Tấy Nguyên:
Em ngoắc tay tôi chén thương, chén nhớ/ Tôi về vấp bước gió mùa đi. (Đôi mắt Tây Nguyên)
Một đêm ở Ba Vì:
Hoa ở Ba Vì đang đăm đắm/ Bếp lửa Đường Lâm đã bập bùng/ Đôi mắt Sơn Tây giờ thăm thẳm/ Chớp lật chiều, chiều lật chớp rưng rung. (Lên Xứ Đoài)
Màu mây Yên Bái:
Ai biết màu mây ngày gặp lại/ Yên Bái tôi còn chưa hết rưng rung. (Yên Bái)
Tiếng hát trên sông Đà:
Tiếng em hát sông Đà dậy sóng/ Làm tôi nghiêng ngả một thu này. (Chợt thu)…
Tất cả trở thành ký ức, thành giá trị tinh thần, thành vẻ đẹp bên trong của con người. Nói lên điều đó, thơ anh mang cảm thức của tâm hồn anh. Vì vậy, câu thơ thường hướng nội. Thơ hướng nội là thơ nghiêng về biểu hiện, như trên kia chúng ta nhận xét, Đặng Văn Chương vượt qua miêu tả để biểu hiện. Thơ ấy, vì vậy rất dễ tìm được sự đồng cảm:
Anh nhỡ cầm nhầm hương tháng Chín/ Mắt em ngân ngấn nước sau rằm/ Để sũng ướt một mùa cúc tím/ Ai hái dùm ta đóa xa xăm. (Tháng Chín)
Đặng Văn Chương vẫn thường đưa vào thơ những hoài nghi mang đầy chất thơ: Ai nhặt bóng đường mê (Đường mê), Ai nhặt trăng sa lối em về (Nhặt trăng), Bao giờ con sóng cũ hồi sinh (Đêm Huế), Thuyền ai neo đêm vào Đập Đá (Đêm Huế), Ngày mai, ngày mai ai biết được/ Vầng hẹn hò xuôi bến về đâu (Vầng trăng hẹn hò), Con sóng nào đỏ mắt đầm sương (Phía Đường Lâm), Ai hái dùm ta đóa xa xăm/ Ly nào chạm giấc ướt thềm trăng (Tháng chín), Sao xứ Đoài bóng đổ hết vào ta (Lên xứ Đoài), Ngôi nào thơm mùi ngô nướng Mẹ ta (Mùi ngô nướng), Ngược lối ai về phía xa xăm, Ai biết lòng ai đang vỗ sóng/ Nỗi niềm nào thắc thỏm chân mây (Ô Quan Chưởng), v.v… Điều này chứng tỏ tác giả sống rất nghĩa tình với những nơi mình đặt chân đến. Sống vô tình thì mọi thứ sẽ trôi qua, sống nghĩa tình thì sẽ được lưu giữ bền lâu trong ký ức. Điều đó không chỉ nuôi dưỡng cảm xúc mà còn tạo nên những khát vọng về cái đẹp!
*
Đặng Văn Chương quê ở Thụ Lộc, Lộc Hà, Hà Tĩnh cũ, cách quê tôi một cánh đồng. Thụ Lộc có ngôi trường cấp II bên cạnh chiếc cầu nhỏ, gọi là Cầu Trù. Chúng tôi, người trước người sau đều thọ học tại ngôi trường thân yêu này. Từ những năm tháng chơi nhiều hơn học ấy, không hiểu thời thế đưa đẩy thế nào đó, chúng tôi, Lê Thành Nghị, Mai Hồng Niên và Đặng Văn Chương đều mê say văn học, rồi mỗi người đến với văn học theo một cách khác nhau. Đặng Văn Chương tốt nghiệp Đại học rồi nhập ngũ tại một đơn vị kỹ thuật. Nhưng sáng tác thơ vẫn theo anh trên mỗi chặng đường công việc. Tuy đến với thơ hơi muộn, nhưng với tình yêu văn chương từ thời trẻ, anh vừa công tác vừa học hỏi để sáng tác. Đến nay anh đã cho in bốn tập thơ: Theo người gánh trăng, Nxb Hội Nhà văn, 2008, Mùa trăng cổ tích, Nxb Hội Nhà văn 2012, Phía sau giấc mơ, Nxb Hội Nhà văn, 2017, Xoay tròn mặt nắng, Nxb Hội Nhà văn, 2018 và Trong khóm đêm già, Nxb…, 2026. Thơ anh là con người anh, đa cảm, nghĩa tình, Người thơ phong vận như thơ ấy (HMT). Ở đời, có thể vẫn có ai đó nói xa nói gần rằng thơ phú chẳng đem lại cơm cháo gì (Cơm áo không đùa…). Nhưng ai nói gì thì kệ, chúng tôi yêu thích công việc chúng tôi đang làm, thế là đủ! Chẳng phải để “lưu danh thiên cổ” gì, mà chỉ để lưu giữ những ký ức của mỗi một người, trong quá trình làm người đầy khó nhọc. Thơ ca vẫn mang tính thanh lọc tâm hồn, đôi khi cần hơn cả cơm ăn nước uống mỗi ngày, như Đặng Văn Chương từng bộc bạch trong bài Sóng vỗ đầy đêm: CÂU THƠ ANH SANG CHẤN MỘT ĐỜI! Xin chúc mừng Đặng Văn Chương và giới thiệu với bạn đọc tập thơ mới Trong khóm đêm già!
Hà Nội, tháng 7 năm 2026
Nhà phê bình LÊ THÀNH NGHỊ
(Hội Nhà văn Việt Nam)

Bài viết liên quan
LỜI THÌ THẦM CỦA LƯƠNG TRI
Tác giả Nguyễn Thế Minh Đó là lời tâm sự thì thầm của. . .
Th10
BÙI THANH HÀ và những khúc ru mùa chữ
1. Thi ca thói thường vốn ưa sự phóng khoáng, tự do, độc lập của. . .
Th10
KHÚC THIÊNG CA CÒN NGÂN MÃI
Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên (Hội Nhà văn Việt Nam) Nhà thơ Phạm. . .
Th10
Phạm Thị Hồng Thu và “CON ĐƯỜNG CỔ TÍCH”
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: Người. . .
Th10
DÀO DẠT MỘT NGUỒN THƠ DƯỚI MÁI ĐỜI TRUNG HẬU
Nhà thơ Nguyễn Mạnh Chu (Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội) 1. Tôi. . .
Th10
“Hương đồng, gió nội” trong thơ Nguyễn Thế Kiên
Công ty Cổ phần Văn hóa Đất Việt xin trân trọng giới thiệu tập thơ. . .
Th8