Lời của nhân vật – Khúc cuối câu chuyện buồn Miền đất hứa

Đâu bây giờ cũng là mảnh đất đáng sống. Khái niệm quê hương đã được mở rộng ra khi mọi người cầm trong tay tấm thẻ Work Permit màu xanh. Không có miền đất hứa nào cả. Đất không biết hứa. Chỉ khi nào sự nỗ lực cố gắng, phát triển bản thân bất kể nơi đâu thì nơi đó là miền đất sống, thấm văn hóa mà thành quê hương. Người lao động nào cũng muốn đổi đời nhưng không chịu đổi mình. Muốn làm một anh Chăn thì phải nghĩ như các Chăn, nghĩa là phải nghĩ khác đi. Ở trường học cô giáo dặn đi dặn lại trước khi đi thi là chọn câu dễ làm trước, khó làm sau. Đừng nghe cô giáo nói! Hãy làm ngược lại, vì cách nghĩ ấy là cách nghĩ đại trà, số đông và phổ thông. Bạn cứ nghe cô giáo đi. Tớ thì không! Một mình bạn sẽ phải chọi nhau với một đám đông, còn tớ chỉ chọi với chính mình mà thôi. Câu dễ có quá nhiều người làm mà điểm chác thì… ui!… leo ơi…! Chẳng đáng là bao. Không có câu nào khó cũng chẳng có câu nào dễ mà chỉ có câu nhiều điểm và ít điểm. Tập trung vào câu nhiều điểm mới là câu nên quan tâm nhất, nhiều lợi nhuận nhất. Người không dám tin vào bản thân thì đưa ra lý do rồi nấp sau lưng sự sợ hãi, còn kẻ biết trước kết quả sẽ nghĩ khác. Thì đây, hãy nghĩ đến kết quả xem nào, dù có làm trọn vẹn các câu dễ cũng chẳng đủ điểm để bước qua ngưỡng cửa trường Đại học!
Các Chăn luôn có những suy nghĩ khác thường. Mọi người thì lo lắng, vật vã đi xin việc làm, còn các Chăn luôn nghĩ ra các việc làm. Ngày còn làm ở xưởng đóng quan tài tôi cũng hay nghĩ ngợi. Sau này thì tôi thấy nghĩ và làm cách xa nhau quá. Nghĩ thì miễn phí, làm phải trả phí mà ai cũng muốn thành công, sợ thất bại rồi khuynh gia bại sản. Nếu có chăng những ý tưởng bột phát, bất thường nhưng bỏ đấy, và thì người ta vui nghĩ hơn là mải làm. Thà có những ý nghĩ quái dị hơn là nghĩ theo cách nghĩ của số đông, chả có khác biệt gì cả. Tôi muốn thay đổi bản thân và cũng là người cả nghĩ, có làm theo đấy nhưng không nên cơm cháo gì. Hóa ra cách nghĩ của tôi chẳng có gì khác thường mà đều tầm thường. Kiểm chứng lại thì thấy xung quanh tôi ai cũng nghĩ như thế cả. Cuối cùng tôi ít nghĩ mà ngẫm nhiều hơn.
Chăm chỉ nhưng vẫn nghèo
Tôi ngẫm ra điều khác thường ấy khi chui xuống nắp cống gần khu nhà trọ nơi tôi thuê, vào lúc hai giờ sáng. Một lần lang thang đi kiếm việc làm tôi đứng lại xem một toán công nhân đang móc cống. Mọi người bịt mũi đi qua rõ nhanh còn tôi thì đứng lại. Thật rõ là kẻ vô công rồi nghề! Có cái gì hay ho chăng? Ừ! Có khối cái hay mà mọi người không vào hoàn cảnh như tôi thì sẽ chẳng được thấy cái gì ngoài mùi hydrogen sulfide, có tên hóa học là H2S. Thối lồng lộng!
Tôi nhìn thấy ba người công nhân mặc quần áo màu ghi sáng. Một anh lái xe kiêm vận hành chiếc máy hút. Một người công nhân điều chỉnh vòi phun bằng cao su, xả vào thùng xe. Một anh công nhân tay cầm chiếc bù cào rồi dùng thang sắt chui xuống, làm việc phía dưới hố ga. Khi thùng xe được bơm đầy bùn đất, chất thải hút dưới đường cống. Nước bẩn màu đen chảy xuống đường phố, tràn ra cả nắp chắn hậu. Bất ngờ tôi thấy có mấy con cá quả phóng ra, rơi xuống, quẫy cạn trên đường. Anh công nhân điều chỉnh vòi phun tóm lấy cho vào một chiếc bao. Thế là bữa trưa nay mỗi gia đình họ đều có món canh cá nấu khế chua rồi đấy! Công việc của toán công nhân móc cống đã quá quen thuộc, bình thường, không có gì khác ngoài sự lặp lại, nhưng với tôi lại là một phát hiện mới mẻ, sánh với phát minh của Đỗ Khang thời nhà Tây Chu – Tửu thánh của ngành rượu Trung Quốc. Phát hiện của tôi còn hiện thực hơn của ông ấy nữa cơ! Những đĩa cơm bụi bình dân ở đầu ngõ hẻm đang nằm im lặng ở dưới kia. Mỏ vàng hay kim cương đang nằm im thin thít đợi thầu khoán mà tôi mới là người được chỉ định thầu. Sự mừng rỡ của tôi cũng không khác gì ông chủ của một công ty khai thác dầu mỏ ở đâu đó ngoài khơi Thái Bình Dương, lần đầu được nhìn thấy dầu ở lỗ khoan thăm dò dưới đáy biển. Sau này thì tôi ngẫm ra niềm vui của tôi và của ông chủ kia là hai niềm vui hoàn toàn khác nhau. Niềm vui của kẻ đi kiếm ăn và kẻ làm giàu chẳng giống nhau tí téo nào.
Khó nhất của tôi là xác định đúng vị trí đường cống ngầm thành phố và đường ngầm ấy phải thông ra sông hay đổ vào một cái hồ nào đó trong hệ thống sông, hồ chằng chịt của Hà Nội thì mới hy vọng có cá, mà hệ thống cống ngầm Hà Nội thì lung tung, tùng beng lắm! Không ai nắm được chính xác hết. Ông chủ tịch thành phố càng mù tịt tìn tin. Đêm đầu tiên tôi chui xuống đường cống chính của một khu đất để hoang, dù đã được đầu tư hạ tầng. Nơi này rất gần với khu nhà trọ, lại là một địa điểm tập kết thuận lợi. Tôi đi khảo sát vào ban ngày để đến tối chính thức vào việc. Đường cống khá to, xây gạch, tấm đan bằng bê tông. Nước ở đây chỉ là nước mưa, lòng cống đầy bùn nhão. Tôi lom khom lội trong bóng tối. Mùi hôi trong lòng cống bốc lên và nóng hầm hập. Phía trước là gì, dẫn đến đâu tôi không biết. Tôi rất hy vọng nó sẽ thông sang với đường cống ngầm mà tôi đã gặp toán công nhân lần trước. Cứ khoảng vài trăm mét tôi lại bắt gặp một hố ga tương tự như hố ga tôi chui xuống đầu tiên. Gần hai giờ đồng hồ mò mẫm, tiến theo hướng ánh sáng lọt xuống qua khe nắp cống mà đi. Từ đường thoát nước chính của khu đất có vô vàn các họng nước được thoát ra từ các đường nhánh. Tôi nghĩ khi khu đất mọc lên các công trình nhà ở thì từ các nhánh thoát nước kia đổ vào đường cống chính vô vàn chất thải từ con người. Tôi tựa lưng vào thành cống, ngửa mặt nhìn lên họng thoát nước trực tiếp và chợt rùng mình. Trên mặt đất, cách chỗ tôi ngồi chưa đầy chục mét là dãy nhà trọ giống như dãy nhà trọ tôi đang thuê ở. Hầu hết nhà vệ sinh ở những nơi này thường thiết kế thoát nước trực tiếp, không có hố ga xử lý hay hầm cầu để “chế biến” chất thải trước khi đưa nó hòa vào hệ thống thoát nước chung của thành phố.
Ngày đầu ra quân thất bại. Hôm sau tôi quay lại thám hiểm hệ thống thoát nước liên khu thì thấy nó đi sang một hướng khác, hướng mà tôi không thể tiếp tục tìm hiểu được vì nơi đó mọc đầy nhà ở. Chỉ có thể đi đến chỗ toán công nhân làm việc hôm trước là ổn nhất nhưng buộc tôi phải đi qua hai dãy phố đầy quán ăn đêm. Các quán ăn đêm này thường tụ bạ rất lắm ma cô và đám ăn sương. Bọn này lại hay thức khuya, ngồi dai chẳng như những người công nhân đi làm ca đêm ăn vội vàng rồi đứng dậy. Cái bọn ngủ ngày cày đêm kia làm cho tôi phải đợi để chúng biến đi đã.
Còn một tình huống buộc tôi phải tính trước có thể xảy ra là lúc bắt cá xong, khi chui lên khỏi miệng cống thì bắt gặp người qua lại, thế nào người ta cũng tri hô lên. Tệ hại hơn nữa nếu chạm trán với một toán công an đi tuần tiễu. Chắc chắn người ta sẽ bắt tôi đem lên phường tra hỏi xem tôi là ai? Tại sao lại chui xuống đường cống? Để làm gì? Có phải tù trốn khỏi trại giam hay không? Hẳn mọi người đều nghĩ chỉ có kẻ xấu, cặn bã của xã hội mới chui xuống đường cống. Trong đầu tôi lúc ấy thực sự hoang mang. Có thể chiếc bao tải mà tôi mang theo để đựng cá, móc sắt, vợt, một tay lưới then ba bằng sợi cước và chiếc đèn soi ếch đeo trước trán sẽ chứng minh tôi vô tội nhưng mọi người sẽ không tin lý do tôi đi bắt cá để sống. Không ai tin một thanh niên khỏe mạnh, tràn đầy nhựa sống lại đi chọn nghề bắt cá cống để mưu sinh! Chỉ có thể là những kẻ đột nhập tư gia hoặc công sở của nhà nước mới lựa chọn lối đột nhập bí mật, an toàn, bất ngờ nhất mà bắt cá cống là phương pháp che giấu cái lý do bẩn thỉu, cặn bã kia hòng che giấu hành vi một khi bị bắt.
Tôi miên man suy nghĩ, đặt ra rất nhiều giả thiết. Tất cả các tình huống mà tôi đưa ra cái nào cũng đều là tai họa cả. Rất mong điều đó sẽ không xảy ra. Hiện giờ tôi không có lựa chọn. Suốt một tuần nay tôi đi lang thang khắp các xó xỉnh để kiếm việc làm. Số tiền mà ông chủ xưởng sản xuất quan tài trả cho tôi đã hết nhẵn. Tôi không biết xin việc ở đâu. Thật lạ lùng, một thành phố đông đúc, lúc nhúc công việc thế mà tôi không kiếm nổi một việc làm là cớ làm sao? Ở đâu tôi cũng gặp những cái lắc đầu từ chối. Tôi nhớ có lần vào một tiệm cơ khí. Có hai người công nhân đang hí hoáy tháo bu lông ra khỏi lốc máy. Một ông thợ đang làm vệ sinh chổi than cho chiếc máy khoan tay. Bên gốc cây hoa sữa có một người đang sơn một thanh sắt. Người này ăn mặc tươm tất, sạch sẽ. Thấy tôi tà tà chiếc xe đạp cà tàng vào vỉa hè, người ấy tưởng tôi là khách hàng liền tức tốc đứng dậy vồn vã hỏi:
“Anh cần làm cái gì?”
“Dạ, là em đi xin việc làm thôi ạ.”
Người ấy nhìn tôi từ đầu đến chân, lại quay ra đánh giá phương tiện mà tôi đang sử dụng rồi xua tay:
“Mời ông đi chỗ khác kiếm ăn cho. Chỗ chúng tôi đang thất nghiệp bỏ mẹ đây này.” – Người này nói xong đi thẳng đến gốc cây hoa sữa tiếp tục công việc.
“Anh ơi!” – Tôi đuổi theo. – “Cho em trình bày tí được không” – “Cần gì? Nói đi!” – “Anh cứ nhận em, không thiệt đâu. Em không cần tiền lương, chỉ xin hai bữa cơm ăn. Có được không?”
“Cơm chúng tôi cũng không có mà ăn. Thuê ông làm gì!”
“Sao thế ạ?”
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Rõ ràng là công nhân đang làm việc. Có việc là có cơm ăn. Sao lại không?
“Sao à? Tiền công trình mấy tháng nay chưa thanh toán được. Mấy ông thợ ngày nào cũng đến làm vớ làm vẩn. Tôi vẫn phải nuôi không họ. Hiểu chưa?”
“Vậy ạ. Thế thì chỉ xin anh một bữa thôi?”
“Một miếng cũng không.”
Tôi nghe người ta nói sống dễ lắm. Không sợ đói chỉ sợ lười. Tôi không lười nhưng vẫn đói rã họng ra đây. Nghịch lý này chỉ có những kẻ như tôi mới phát hiện ra. Ai cũng bảo làm gì có chuyện ấy. Chỉ giỏi bịa. Ai tin!
Tôi chợt nhớ đến những bài học mà người em rể tên là Phú đã dạy. Những câu chuyện của Thắm, của Hồng vô tình nói ra những kinh nghiệm xương máu của họ. Tất cả mọi người chỉ quan tâm là cần phải sống. Mỗi người sẽ chọn cho mình một kiểu để sống sót dựa vào sở trường hay sở đoản của mình. Sở trường của anh Phú là đầu óc lưu manh, bài bản, có lý thuyết. Anh từng nói với tôi:
“Một kẻ làm thuê giỏi nghề mà tận hiến cho công ty là mù quáng. Công ty là thời vụ. Lao động làm thuê là mãi mãi. Công ty chỉ là nơi làm việc, gia đình mới là nhà. Công ty là nơi khai thác kiệt cùng tài nguyên con người. Gia đình là nơi che chở, ấp ủ, yêu thương.”
Tôi ngây thơ: “Nếu không coi công ty là nhà, không tận hiến thì công ty sẽ không thuê tôi làm việc”. Phú quắc mắt lên bảo:
“Đó là ngôi nhà ma hiểu không? Ngôi nhà mê hoặc, là nhà của người ta! Của người ta! Hiểu chưa? Đồ điên!”
Rồi anh dịu giọng trở lại vấn đề chính. Anh nói người công nhân đi làm thuê để mang tiền về cho mẹ, cho vợ, mang tiền về nhà của mình. “Đó là chân lý ba càng hiểu chửa?” Một chân lý tuyệt đối và duy nhất. Đơn giản đến mức ai cũng có kỹ năng phòng ngự thật tốt. Phòng ngự hay tự vệ để tồn tại. Ý nghĩ ấy cứ ghim trong đầu. “Cả đời ông tận hiến cho công ty. Một khi công ty phá sản thì ông là người bị đá ra đường trước tiên. Không có ai đoái hoài đến ông hết!”
Tôi chỉ còn biết ngây người ra mà nghe. Thật là phũ phàng nhưng nó là sự thật. Anh Phú ngó vào bản mặt thần thộn, thuồn thuột của tôi rồi nói tiếp:
“Sao trông ngẩn ngơ, ngơ ngác, ngô nghê thế! Còn điều nữa cũng quan trọng không kém là ông hãy lên phương án chuẩn bị quãng đời còn lại của đời người. Tất cả các công ty chỉ thuê người trẻ. Độ tuổi mạ vàng ấy! Hiểu không? Ba nhăm tuổi trở lên là họ không ký hợp đồng lao động nữa, trả công nhân về nơi phát hành ra họ, đẩy gánh nặng cho xã hội, không thương tiếc, không ai can thiệp được! Điều này ông có nghĩ đến không? Muốn không sống dựa, không làm phiền người khác thì lúc còn trẻ hãy kiếm thật nhiều tiền để trang trải cuộc đời chứ. Hiểu ra chưa?”
“Vậy phải làm sao?”
“Làm sao á? Trong lúc làm việc, tích lũy kinh nghiệm. Hãy nắm lấy bí quyết công nghệ của công ty rồi về nhà tự mở xưởng mà làm. Ít nhất thì mình làm thuê cho chính mình. Càng nhiều cơ sở sản xuất, nhà nước càng vớ bở.”
Tôi biết việc này không ngon ăn như Phú nói. Không một anh Chăn nào để lọt bí mật công nghệ ra ngoài, kể cả những ông chủ nhỏ tí xíu cũng không bao giờ để sểnh bí quyết nghề. Dù có ăn cắp được bí quyết cũng khó thực hiện được vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như thuê mặt bằng, tiền vốn, thuê nhân công, quảng cáo, bán hàng, thuế má và trăm thứ bà giằn khác. Tôi nhìn vào mắt kẻ khôn ngoan, lọc lõi – Rõ là quân ăn cướp được biện hộ là bắt chước. Thật không lành mạnh một tí nào nhưng nó cũng trở thành đề tài cho ngàn vạn cuốn sách dạy cách ăn cắp nghề, được ngụy trang bởi sự nỗ lực, vươn lên và được số đông nhiệt liệt tán thành. Tôi có suy nghĩ riêng mình nhưng không nói với Phú và cũng không bao giờ có ý định nói với Phú, đó là cả đời tôi chỉ muốn làm công nhân nhà nước. Tôi không dám nói điều này vì tôi không tự tin để nói với Phú là làm công nhân nhà nước vẫn hơn làm ngoài, công nhân lớn tuổi tuy năng suất giảm sút nhưng không bị vứt ra lề đường. Nhưng tôi biết sẽ không địch lại được với một người có nhiều trải nghiệm như Phú, Phú sẽ làm cho tôi nản lòng ngay lập tức! Không những thế Phú còn dập tan nát những suy nghĩ tích cực của tôi như nghiền đá làm thức ăn cho cá. Mặc kệ! Dù thế nào tôi vẫn muốn làm công nhân nhà nước hơn. Có thể nhiều người cho tôi là kẻ bảo thủ, cứng đầu nhưng rõ ràng công nhân nhà nước bao giờ cũng có tính bảo hộ cao hơn các công ty tư doanh, đôi khi được dựa dẫm nhưng công ty ngoài quốc doanh thì không. Muốn dựa thì ra ngoài gốc cây mà dựa!
Sau này quen Xuân. Cô ấy bảo làm công nhân nhà nước tuy được cái lọ nhưng bị mất cái chai. Chung quy lại thì cũng là làm thuê, khác gì đâu nào? Chỉ khác màu áo lao động mà thôi. Công ty nhà nước hay công ty tư nhân đều mút năng lượng lao động như cách người ta mút dầu ý! Phải gió cái nhà cô này! Đã không lắng nghe thì thôi, lại nỡ lòng dập thêm cho nhát nữa.
Một lần tôi có tâm sự với anh Hồng, nói về ước mơ làm công nhân nhà nước của mình rồi đem ý nghĩ của Phú nói lại với Hồng. Anh Hồng trầm ngâm một lúc rồi bảo tao cũng có ước mơ ấy nhưng ông Phú nói đúng. Tấn công mà không phòng thủ thì bị hở sau lưng. Mà suy cho cùng, làm thuê cho công ty nhà nước cũng thế thôi. Lương thì thấp, lại cào bằng, chỉ béo những thằng lười biếng và không biết làm gì cả. Công ty nợ lương, nợ tiền bảo hiểm xã hội có khi cũng chả ai quan tâm vì các cơ quan chấp pháp là công cụ được sinh ra để bảo vệ phần vốn hay lợi ích nhà nước – Anh ngừng lời rồi nhìn tôi chăm chú – Là tôi vơ cả những kẻ bất tài nhưng biết cách lấy thân che tài. Tuy các công ty tư doanh cũng có kẻ nịnh hót nhưng chủ của chúng thì khôn vãi! Chúng biết sử dụng tất cả các loại nhân tài miễn là có lời và chẳng thèm đếm xỉa đến vấn đề đạo đức xã hội. – Anh lại ngừng nói để cho tôi ngấm câu cảm thán của anh rồi mới rủ rỉ tiếp lời. – Để tôi nói nốt cho mà ngẫm này, cái này mới làm cho cả xã hội lo lắng, đó là nạn tham nhũng. Những kẻ tham lam này sang tên công ty nhà nước thành nhà của mình, biến chúng thành cường hào và biến người lao động thành nạn nhân. Bắt nạt là phương pháp quản lý và phổ biến khắp nơi. Bọn chúng đưa anh em, bạn bè, họ hàng nội ngoại vào cơ quan, đem cả cô hàng xóm xinh xinh tới làm việc. Chúng dắt thêm con chó nhà mình đến uống nước của công ty. Chúng vơ vét cả tiền thuế của nhà nước mà không hề ngần ngại – Anh lại ngừng lời. Lần này lâu hơn. Nhìn tôi sâu hơn – Thôi! Đã nói thì nói cho hết nhẽ luôn: Công nhân của nhà nước nghỉ không lương đều ùa ra chợ kiếm sống. Ai là người lo cho họ? Công ty ở đâu? Cuối cùng thì mình vẫn tự lo cho mình là hơn cả. Ai không biết lo xa thì người đó trở thành công cụ cho người khác kiếm tiền!
Hoang mang quá nhỉ! Có cái gì đó sai sai. Sao mọi người dồn ép bài toán lợi ích của các công ty đến tận cùng thế chứ? Tôi dựa lưng vào tường cống suy nghĩ nên tiếp tục thám hiểm nữa hay không nhưng câu chốt kèm trong tiếng thở dài não nuột của Xuân, những lời bảo ban của Phú hay triết lý của Hồng cứ ám ảnh, miên man mãi. Phú dặn tôi rằng dù là thằng lao động móc cống cũng có ngón nghề của nó. Tận trong sâu thẳm tôi không hiểu được tại sao phải làm thế? Vấn đề ở chỗ nào? Có phải tất tần tật lý do chỉ vì sự sống sót hay không? Tôi cần phải sống. Mọi người cần phải sống. Tất cả các mưu cầu đều cần cho sự sống. Thế giới hoang dã tàn khốc, sểnh ra là chết. Thế giới loài người thì đắm chìm trong bể khổ. Cả Đác-uyn lẫn Đức Phật đều nhận định thế. Thật khó chấp nhận nhưng nó là thực tế hiển nhiên. Là con thú, tôi không phải là động vật ăn thịt. Là con người, tôi không có bản năng tự vệ như Hồng, như Phú và nhẫn tâm, tàn độc như Thắm. Tôi đang là kẻ thất nghiệp lang thang đường phố lại không có sở trường và sở đoản như họ. Tôi cần có việc làm nhưng không có kỹ năng lừa dối các ông chủ để nhận tôi vào làm việc. Tôi nhiều lần nghĩ đến cái chết trong phòng trọ. Một cái chết thảm hại đầy tai tiếng. Đó là chết đói. Thì đây! Đây là chiếc phao cứu sinh giúp tôi khỏi đứt bữa trước khi tôi kiếm được cho mình một việc làm tử tế.
Thôi! đừng lan man nữa. Càng suy nghĩ lắm sầu lại càng sầu. Tôi quyết định chui xuống hố ga, chỗ mấy công nhân làm việc bữa trước. Tôi lật nắp hố ga đặt nó sang một bên rồi thả đoạn thang tre tự làm và trèo xuống. Tầm này đường phố không một bóng người. Các quán ăn đêm đã dọn sạch bàn ghế dã chiến, chỉ để lại đống rác rưởi đường phố. Từng đợt gió khuya lành lạnh thổi bay chúng xuống lòng đường và kéo lê đến các khu phố khác.
Đây là đường cống thoát nước chính do người Pháp xây dựng. Đấy là tôi đoán thế vì chỉ có người Pháp mới làm kiểu nóc cống cuốn vòm. Đây thật xứng đáng là kỳ quan trong lòng đất. Các công ty du lịch phát hiện, sau đó tổ chức các tour du lịch thám hiểm sẽ kiếm bộn tiền cái chắc. Đường cống rất rộng và cao, tôi không cần phải chui lom khom như đường thoát chính mới xây dựng nhưng chất thải đóng váng ngập đến ngang bụng, sởn gai ốc. Bọt bẩn sủi lên hệt như bọt khí các – bon trong một vại bia hơi kiểu Hà Nội, hay bọt mật gỉ của Nhà máy đường Vạn Điểm. Mùi thối của khí độc như muốn thổi bay tôi lên vỉa hè. Vào sâu trong đường cống càng tối. Tôi bật công tắc chiếc đèn chạy bằng pin khô đeo trước trán. Bọt nước chỗ tôi lội xuống bắt sáng như ma trơi. Tường và vòm cống nhớt nhát và đầy gián. Những con gián có màu trắng do cớm nắng nhiều vô kể. Mấy hôm trước tôi đã chuẩn bị đầy đủ dụng cụ tới mức chỉ còn thiếu chiếc túi cứu thương nữa thôi. Tôi tự nhủ phải làm việc rất nhanh kẻo trời sáng. Khi lội trong lòng cống rất sợ giẫm phải mảnh thủy tinh hay các vật cứng sắc, nhọn đầy lòng cống và khó di chuyển. Tôi liền trườn theo hướng nước chảy, vừa trườn vừa khua khoắng và phải chịu hít thở trực tiếp với nguồn nước thải. Về đêm, lượng nước sinh hoạt không tuồn ra nữa mà chỉ còn ở các nhà máy tống ra nên nước rất ít, cũng không chảy xiết. Khó nhất là thỉnh thoảng lại bắt gặp một đống vật cản ngăn dòng chảy mà tôi cần phải vượt qua nó nhưng tại những điểm này tôi thường bắt được nhiều cá hơn. Cú đầu tiên tôi tóm được hai con cá quả và một con diếc bụng đầy trứng. Vì sinh ra ở nông thôn nên tôi biết cá thường dậy rất sớm để kiếm ăn. Những con cá thường bơi ngược theo dòng nước chảy chủ yếu là cá xanh. Những con cá trắng ăn sạch, ở sạch nên ít khi chịu đi kiếm ăn ở những vùng nước bẩn. Tôi nắm chặt con cá diếc trong tay và hỏi có phải mày muốn đi đẻ ở bệnh viện Phụ sản Hà Nội phải không? Chỉ cần mày nói một câu “đúng” là tao thả mày ra liền. Con diếc ưỡn lên, giẫy đến là khỏe, cái mồm ngão ra, ngáp liên tục, chắc là nó nói tiếng cá mà tôi lại không nghe được tiếng cá. Thế là tôi cười lên vui vẻ và không còn ngửi thấy mùi thối nữa. Có thể do ngửi nhiều rồi quen đi, cũng như các hộ dân nuôi lợn trên nhà tập thể cao tầng, ngủ chung với lợn, hương người và hương lợn hòa vào nhau làm một. Đấy cũng là cách để sống sót trong thời kỳ bao cấp, thời kỳ mà người lao động không được tự quyết những sản phẩm do chính mình làm ra. Cũng từ đây tôi hiểu được Đất nước và Nhà nước là hai khái niệm khác nhau từ một cuốn sách của Fridrich Nietzsche mà chị Quế đưa rồi hướng dẫn cho tôi cách đọc. Tôi càng thấm thía hơn lời Phú bảo thuế là một trong những nguồn thu chính của Nhà nước. Các Chăn dựa vào người làm thuê. Họ hớt váng sữa trở nên no béo. Người làm thuê sống sót nhờ bán sức lao động nhưng họ biết dựa vào nhau. Chỉ có anh là không biết dựa vào đâu cả. Phú đã cố gắng thuyết phục tôi biết cách tách khỏi bầy đàn mà sống. Bây giờ thì tôi hiểu rõ hơn quy luật Tiêu – Trưởng xã hội mà Phú đã dạy.
Trong vòng một tháng bốn ngày tôi sống ung dung bằng mức bình dân của thành phố. Trong một tháng bốn ngày vương giả ấy tôi chỉ phải làm việc mười bảy lần, mỗi lần khoảng hai giờ đồng hồ. Người ta bảo tiền dễ kiếm thì tiêu nhanh hết hay của thiên trả địa cũng thế. Tôi ngẫm ra điều ấy, mà chỉ sau này tôi mới ngẫm ra điều này, chứ ngay tại thời điểm ấy tôi tự thưởng cho mình những miếng thịt kho tàu và cho phép mình bước chân vào rạp chiếu phim. Chà! Đây mới thật sự là miền đất hứa. Tất cả các dịch vụ cung cấp cho con người, thỏa mãn bằng hết những nhu cầu của con người từ vật chất đến tinh thần nhưng với điều kiện là phải có tiền. Tôi có tiền. Có tiền thì có quyền. Tiền tôi kiếm được do lao động mà có. Tôi lao động dưới đường ngầm vào các ngày lẻ và hưởng thụ nó trong ngày hôm sau, ngày chẵn. Trong các ngày chẵn tôi thường phiên lưu trong mọi ý nghĩ lương thiện và cả đen tối. Ngồi trong rạp xem những bộ phim bom tấn khiến tôi liên tục nghĩ đến kế hoạch bắt cá cống và mua sắm chiếc phi thuyền tự lái để bay lên bầu trời. Đóng mới vài chiếc du thuyền vượt biển và tậu hẳn một chiếc xe tăng mới tinh chạy bon bon trên đường phố Hà Nội.
Nhưng rồi một sự việc không ngờ, không nghĩ đến xảy ra khiến những ý nghĩ điên rồ biến mất, không bao giờ còn tồn tại. Những người xóm trọ dậy sớm chuẩn bị hàng họ cho một ngày mưu sinh mới đã phát hiện ra tôi đang sinh sống bằng nghề hèn hạ, bẩn thỉu nhất, khi mà người ta chỉ nghe nói đến đã rùng mình, khinh bỉ. Mới đầu thì họ mặc kệ nhưng mùi tanh lộn mửa của cá, mà cá cống có mùi tanh đến hôn mê cộng với mùi hôi thối từ người tôi tỏa ra khiến họ không chịu được, nhất là phòng trọ liền kề. Những ngày đầu tiên tôi chỉ tắm rửa qua loa, giội nước làm sạch những con cá trong bao rồi chất lên xe đạp đem ra chợ bán. Đầu tiên thì họ sang tận phòng trọ của tôi để góp ý, đại khái là họ không quan tâm đến tôi làm gì nhưng không được mang mùi hôi thối đó về. Tôi trình bày đủ các lý do. Tôi cũng muốn tắm rửa trước khi về nhà lắm chứ nhưng tôi không thể lê bước đến Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Trúc Bạch, Bảy Mẫu, Hồ Giám, Linh Đàm, Thủ Lệ, Thành Công, Ngọc Khánh, hay Hồ Thiền Quang… Tôi không thể tắm nhờ nhà dân. Hà Nội hiện giờ vòi nước công cộng cũng chỉ còn ở một số nơi. Vậy mong mọi người thông cảm, bỏ qua.
Nhưng mọi người không bỏ qua.
Ngay đến quán cơm bụi đầu hẻm cũng xua đuổi. Anh chủ quán luôn tỏ ra thân thiện với người lao động, nhã nhặn, lịch sự trước đây giờ cũng tỏ ra khó chịu mỗi khi tôi bước chân vào quán. Tất cả thực khách hễ nhìn thấy tôi là muốn bỏ chạy. Tôi không hiểu mọi người nghĩ gì. Tại sao họ lại tỏ ra khinh bỉ với nghề bắt cá cống? Thế là tôi bỏ đi đến một quán cơm khác, lòng đầy tự ái và rồi tôi cũng bị tẩy chay y chang như quán cơm thân thuộc kia. Mới đến ăn cơm một bữa, chủ quán kéo ngay tôi ra một góc rồi bảo:
“Ông thông cảm. Từ ngày mai xin mời đến chỗ khác ăn cho.”
“Sao? Tôi có tiền mà.”
“Tôi biết! Tôi biết! Nhưng cái mùi của ông làm cho khách của tôi chạy hết.”
Đi thì đi! Tôi ngạo nghễ sải bước đến quán cơm khác lòng có tự ti, mặc cảm đôi chút nhưng đồng thời cũng tỏ ra kiêu ngạo của kẻ có tiền. Có tiền biến tôi thành bề trên. Đi đứng nghênh ngang, vênh váo lắm! Tôi không đến ăn cơm sẽ làm cho anh ta chẳng mấy mà bị sập tiệm, còn ngầm mong anh ta sẽ hối tiếc vì đã đuổi tôi đi. Trước khi đi chỗ khác tôi cần chứng minh việc coi thường tôi, – kẻ có tiền là như thế nào, sẽ bị trả giá cho sự sai lầm to lớn xảy ra trong tương lai. Tôi kéo cao ống tay để lộ một làn da mốc xỉn, xuất hiện những nốt màu đỏ dưới da trông như những nốt ruồi son. Tôi nhớ cánh tay, cẳng chân của mình trước nay trắng hồng, nhẵn mịn có một làn sóng lông rất đẹp giờ đã rụng tiệt. Tôi đưa cánh tay trần lên ngang mũi ngửi, tuyệt nhiên không thấy mùi gì lạ ngoài mùi của mình, thoang thoảng mùi xà phòng Fa của chị Quế. Tôi trình cánh tay của mình định đưa vào mũi ông chủ thì bị ông ấy lấy tay gạt ra, bàn tay kia ôm chặt lấy mũi. Tôi vừa dứ dứ vừa bảo:
“Đâu, có mùi gì đâu.”
“Ông không gí mũi vào sát lỗ xả thải thì làm sao biết mùi của mình!”
Tôi không bằng lòng với cách giải thích lỗ mãng của ông chủ quán cơm. Mũi của tôi cũng giống như mũi của anh ta, thậm chí hai lỗ còn nhỉnh hơn hai lỗ thông hơi của ông chủ. Vả lại quyền bán và quyền mua là ngang nhau. Tôi có tiền. Sỉ nhục người khác là có tội. Lúc ấy có mấy người khách ngồi ăn ở gần đấy cũng tham gia vào. Một người trong số họ bỗng đứng phắt đậy, cao giọng:
“Người gì mà không khác cái hố xí di động. – Nói rồi nhìn thẳng về phía tôi giọng đầy thách thức. – Anh kia! Tôi đang nói anh đấy!”
Đây rõ là miệt thị người lao động. Ở đâu tôi cũng gặp nhưng đây là chuyện kỳ thị nhau giữa những người làm thuê. Thật đáng báo động! Sự suy thoái đạo đức này báo hiệu sự đổ vỡ, đứt gãy của tinh thần gắn kết số đông lại với nhau. Tôi không tin mình có mùi kinh dị đến như thế vì thịt da tôi không có chỗ nào bị hoại tử cả.
Tôi kiểm chứng lại ở các quán cơm ẩn dật tận trong ngõ hẻm hay chè chén vỉa hè thì thấy đúng như vậy. Tôi đi đến đâu cũng bị mọi người né ra. Hễ tôi bê phần cơm của mình đặt xuống là y như rằng những người ngồi tại bàn đó bê phần cơm của mình chạy sang bàn khác. Tôi đến rạp chiếu phim, một mình tôi ngồi ba dãy ghế. Tôi ngồi ghế đá trong công viên ăn kem ba màu, mọi người giãn ra vì nhầm tưởng tôi đang ăn cây kem đang phân hủy và bốc mùi, thứ mùi của con người phóng ra chứ không phải mùi kem do Hà Nội sản xuất vừa mới ra lò. Thật tệ! Tận lúc ấy tôi mới biết cái bộ phận đánh hơi của tôi đã bị chất H2S phá hủy hoàn toàn.
Đen đủi nhất là khi về đến nhà trọ. Bà chủ nhà, – một người đàn bà núng nính mỡ, chuyên mặc áo hở bụng và mặt mũi trát đầy son phấn tra hỏi tôi rất cặn kẽ và kết luận rằng tôi đã bị chất thải ngấm vào người theo cách người ta muối dưa. Người tôi giờ là một viên nén chất thải rắn, giống như viên băng phiến ý, theo tuyến mồ hôi thăng hoa ra ngoài. Nói rồi bà ấy bằng giọng the thé đề nghị tôi chuyển đi chỗ khác. Tôi ngồi lỳ ra và ấm ức trước những lời cáo buộc vô căn cứ, hạ thấp giá trị người khác. Bà ấy chừng đọc thấy những suy nghĩ oan ức của tôi liền xuống mức, có cách tháo gỡ nhưng kèm theo điều kiện:
“Tôi đồng ý cho cậu ở lại nhưng không được đi bắt cá cống nữa.”
Và tôi buộc phải nghe theo tuy rằng rất luyến tiếc. Trong đầu luôn luẩn quẩn với kho của nằm sát mặt đất mà từ nay tôi không còn khai thác. Dù có tiếc đấy nhưng tôi học được bài học, cũng là công cụ của các Chăn, đó là bí mật thông tin. Bí quyết của làm giàu chính là nằm ở điểm này và tôi quyết không chia sẻ nó cho ai. Sau đó tôi đi ra chợ lao động để kiếm việc làm thì gặp Hòa sùi, một đồng đội cũ thời còn tại ngũ và sát cánh với nó. Công việc bảo kê ở chợ lao động cứ làm cho tôi day dứt mãi. Không có lối thoát nhưng cũng không thể là thứ lý do biện hộ cho việc ăn cướp mồ hôi lao động của người khác. Cứ mỗi lần day dứt tôi lại nghĩ đến việc bắt cá cống.
Tôi nhớ rất rõ sau lần cãi nhau với thằng Hòa sùi vào thời kỳ cấy gặt ở nông thôn. Tất cả những lao động tự do rút hết về quê. Hà Nội những ngày này vắng vẻ, đìu hiu… và buồn, chẳng khác gì một Hà Nội xưa, Hà Nội của ngày toàn quốc kháng chiến! Sinh hoạt thành phố luộm thuộm hẳn. Tất cả mọi hàng hóa trong chợ đột ngột tăng giá. Tất nhiên chợ lao động chịu tác động nhiều nhất. Cung không đủ cầu. Tất cả các ông chủ, từ ông chủ đứng tên trong sổ đỏ đến chủ hộ kinh doanh đều nhao ra chợ lao động kiếm người làm. Các công ty còn khốn khổ, khốn nạn bị chậm tiến độ do thiếu lao động. Thằng Hòa thì ruột gan như lửa đốt, đã thế miệng lại còn bận bịu với những lời hứa hẹn để giữ chân khách hàng nữa chứ. Điện thoại của nó réo liên hồi kỳ trận, không khéo bị tụt sóng mất thôi… Vâng, em hiểu. Chỉ tại mùa màng chết tiệt kia kìa! Anh ạ… Vâng, em biết nỗi khổ của các gia đình khi ô-sin nghỉ phép. Dạ… nhưng anh giai ơi… Nỗi khổ không chỉ riêng ai. Chỉ có người thành phố chúng ta mới thấu hiểu nỗi cơ cực này. Có tiền mà vẫn khổ. Thật là nhục nhã! Thôi anh ơi… buồn mà chi! Khi nào họ đưa chân vào Hà Nội là em sẽ chuyển hướng về nhà trọ để đến nhà anh ngay lập tức. Ngay và luôn ạ!… Chị ơi, chị chịu khó vất vả dọn dẹp mấy hôm. Dạ, chắc vài hôm nữa thôi… Không! Ai chứ với chị, em không dám hươu vượn… Dạ, dạ, bố em sống lại em cũng không dám cả gan đâu ạ… Ơ, này! Chị ơi! Họ lấy đâu ra nhiều lúa mà gặt thế chứ! Giả dụ có thế thật thì em cam đoan người thành phố có mà kéo hết về nông thôn để đi gặt thuê ấy chứ! Phải thế không ạ?… Dạ… Em hứa! Em hứa! Dạ, chắc không lúc lắc! …Mẹ kiếp! Một ngày làm ở thành phố kiếm cả yến rưỡi lúa lại bỏ về. Lúa với chả má. Mùa với chả màng! Chật vật cấy hái cả năm không bằng đi làm ô sin thành phố một tháng. Con mẹ chúng nó!
Dĩ nhiên có những lao động tình nguyện ở lại Thủ đô do nhà ít ruộng hoặc tư duy công việc đã làm họ thay đổi hay đơn giản là họ nghĩ làm ngày này tiền công bằng ba ngày bình thường. Tôi biết đấy là tư duy chộp giật và họ cũng bị Hòa sùi chộp lại.
“Dã man!” – Tôi nói.
“Thôi đi! Đồ giả dối có cánh! Tao với mày chỉ dựa vào cái chợ này. Không có người làm, lấy tiền bát ở đâu?”
Bà chủ quán nước cũng đồng tình:
“Tôi không bênh gì anh Hòa. Những lúc như này không làm thế thì làm thế nào? Cái gì khan hiếm là tăng giá. Đó là chân lý sáng ngời ngợi! Nói để anh Lành biết, các ngài cửu vạn cũng chả thiệt thòi gì đâu. Họ ra chiêu tăng tiền công, khách hàng chịu cơ mà. Một năm chỉ có hai vụ cá kiếm thôi. Nước nổi thì bèo nổi. Nếu là tôi, tôi cũng thế! Thậm chí tôi còn muốn cắt tiết đến hết máu các Thượng đế của mình cho bõ ghét!”
Bà cô này cũng thật đáo để. Tôi biết vỉa hè là nơi ta thán, quán xá là thông tấn xã của nhân dân, là nơi diễn ra các cuộc luận bàn, tranh cãi. Bà bán nước chè chén trước đây đã từng lên án và kết tội, bà ấy nói tội lớn nhất của con người là tội nghèo đói. Nghèo mà con học giỏi thì thành thảm họa.
“Đúng! Bà cô này có một cái đầu thực dụng vĩ đại không như cái đầu đạo lý cực tiểu của ông bạn cháu.”
Tôi hiểu ý của thằng Hòa nhưng không tranh cãi với nó về sự cướp bóc giữa bất hợp pháp và luật hóa. Tôi nhiều lần ngồi nghe đám thất nghiệp ở chợ lao động ngồi than vãn về vật giá leo thang, về những khoản đóng góp ở nông thôn, rồi họ ngồi bấm đốt ngón tay tính toán có tới trên bốn mươi loại thuế trên đầu một hạt thóc. Thông thường thì người ta chỉ đánh thuế trên đầu sản phẩm, nhưng các tinh hoa kinh tế lỗi lạc đem tháo tung sản phẩm đó ra mà đánh thuế lên từng chi tiết. Mỗi hạt thóc từ đồng về nhà vốn đã tích thuế sẵn. Thóc đi từ nhà ra chợ lấy tiền đóng học phí cho con lại thêm một lần thuế nữa. Từ thóc ra gạo tạo ra một dòng thuế mới. Gạo từ các hộ tiểu thương ngoài chợ, bán cho các bà nội trợ, thuế vẫn truy sát đến đến tận cùng người ăn cơm. Biết làm sao! Các bác chỉ biết ngồi than vãn nơi đường phố, vỉa hè về sự tận thu. Thằng Hòa thì thèm gì đếm xỉa đến những thứ đó chứ! Điều này tôi biết, đến kẻ khó tính cũng không thể chối cãi khi đọc cuốn sách của Claude Frédéric Bastiat về thuộc tính nhà nước, rõ ràng đến mức không gì có thể che đậy được. Tôi chán nản nhìn thẳng vào mặt thằng Hòa, nhìn vào những điểm nhấn sần sùi, trang điểm trên mặt nó và chợt nhớ đến chân lý mà anh Lục, – một Giám đốc quốc doanh hẳn hoi rút ra: – Ở chiến trường thì còn có đồng đội nhưng ra thương trường thì chả có bạn bè, đồng nhôm gì cả, cũng không bố con với đứa cứt nào sất! Chỉ có tiền, tiền, tiền và tiền!
Tôi không bàn chuyện của hai người, không tranh cãi nhưng Hòa bảo tôi là đồ giả dối có cánh, đạo lý cực tiểu khiến cho tôi vô cùng bực bõ và quyết định rời xa nơi này mãi mãi, nhưng dù sao trong lòng cũng rất buồn, buồn vì lòng tốt bị đem ra bêu riếu. Lòng tốt cũng có thể bị coi là giả dối vì nó phản động lực. Lòng tốt là một ba-ri-e ngăn chặn lòng tham, vị kỷ cá nhân cũng như buộc dòng tăng trưởng kinh tế chạy chậm lại. Không những vừa chạy, vừa ngoảnh cổ lại nữa cơ! Câu này thì tôi cũng đã từng nghe anh Lục động miệng. Anh ấy bảo lòng tốt là kẻ thù truyền kiếp của lợi nhuận, chỉ để cho người khác khai thác, lợi dụng và chà đạp. Anh ấy còn nói làm người tốt khó lắm! Thời buổi bây giờ chẳng dại gì mà làm người tốt một cách lộ liễu. Nếu hiểu theo thuyết âm – dương thì lòng tốt đang chuyển dịch xuống phần đuôi cá trong biểu tượng đen – trắng. Sự đè nén của bóng âm sẽ là lúc ánh dương nạp thêm năng lượng trở về, nở hoa miền cực thịnh.
Không phải ngay bây giờ tôi mới có những suy nghĩ tùng beng lên như thế. Ngay cả lúc tôi chỉ có một mình trong cống ngầm thành phố, là điểm tiếp giáp giữa âm – dương, sáng – tối, sống – chết, dương gian – âm phủ. Trong lúc nghỉ giải lao khi đi bắt cá thì tôi cũng đã nghĩ nhiều lắm chứ bộ! Tôi được nghe người ta bàn tĩ tã, rác tai về thuyết âm – dương vì càng nghe càng thấy như đâm đầu vào bờ tường. Tựa lưng vào thành cống nhớp nháp đầy gián để suy ngẫm, tỉ tót về sự ảnh hưởng sâu rễ bền gốc của thuyết Tam giáo đã trồng cấy vào con người từ ngàn năm nay. Nho giáo, Phật giáo, Phong tục tập quán, các quy tắc tạo nền tảng đạo đức xã hội… rồi thấy nó trói chặt, nghẹt thở quá! Tôi mơ đến ngày có một thứ thuốc cai nghiện chúng rồi mau chóng vứt sang một bên để ngẫm các vấn đề về lý thuyết khai sáng, thuyết Tiến bộ giáo, thuyết Tín ngưỡng phái sinh, sau đó ngắm nghía Chúa Jesu, Phật tổ từ phía sau, nghĩ về căn bệnh sùng bái cá nhân, đạo trung quân và đạo thường dân… suy ngẫm về giá trị gia tăng, các đạo luật khép con người vào kỷ cương xã hội, các thuyết Thặng dư, thuyết Giá trị, thuyết Cung cầu, thuyết Ngũ hành sinh – khắc, thuyết Luân hồi, thuyết Tương đối, thuyết Bảo toàn năng lượng, thuyết Sinh tồn… mà ngẫm về xã hội tươi sáng cho nó sung sướng!
Tôi quyết định rời xa khu chợ. Dù gì thì tôi vẫn còn nghề bắt cá cống. Nó giống như nguồn tài nguyên dự trữ vô tận. Ngày còn trong quân ngũ tôi có đọc cuốn sách của Dale Camegie. Cuốn sách nói về cách dẫn dụ con người sao cho có lợi cho mình nhất, cũng như nhiều cuốn sách của các triết gia trên thế giới dạy cho người ta cách trở nên khôn ngoan, giảo hoạt, biết cách ăn người hơn, cứ làm như lừa dối đám đông mới là cách khai phá con người để thành công. Dale Camegie cũng thế thôi! Có thể sau đây ít năm nữa các học giả Việt Nam, các doanh nhân ưu tú của chúng ta cũng xuất bản những cuốn sách dạy người Việt Nam cách làm thế nào để trở nên giỏi giang hơn, thành công hơn. Có vẻ ích lợi đấy, nhưng chắc cũng cùng mô-típ với những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới mất thôi! Tôi thích họ dạy kỹ năng làm thế nào để con người sống tốt hơn, chỉ rõ cho mọi người thấy những yếu điểm của mình, tránh bị những kẻ làm giàu không bao giờ bị bắt khai thác và lợi dụng. Song cuốn sách của Camegie cũng có chỗ làm tôi rất thích. Ông ấy nói lấy cái gì thì trả lại cái ấy. Chặt cây thì phải trồng cây. Đằng này cá trong tự nhiên quá nhiều, một mình tôi bắt không xuể, không bắt thì nó cũng tự chết đi. Tôi chẳng mất công gột cá bột, phải không Dale?
Tôi quyết định nghỉ việc ở chợ và trở lại cống ngầm. Đó là bí mật của riêng tôi. Đó là chiếc két bạc dự trữ chiến lược. Không có việc làm dễ biến con người thành lưu manh. Từ nay tôi sẽ không phải lo lắng bị chết đói, cũng không phải làm những công việc thất đức như việc tôi với thằng Hòa cướp bóc ở chợ lao động. Chỉ có điều tôi chú ý tới vấn đề vệ sinh, không ngâm mình lâu ngày dưới cống ngầm, làm sao đó để nước thải không ngấm sâu vào trong cơ thể.
Tôi không chọn tuyến cống tôi đã chui xuống trước đây vì nó không có nước cho tôi tắm rửa qua loa. Người không ra người, ma không ra ma. Toàn thân đen sì, nhầy nhụa và thối khủng hoảng. Chắc chắn bà chủ nhà trọ sẽ lùa tôi đi ngay tức khắc. Qua những công nhân làm nghề móc cống cho tôi biết tuyến cống ngầm nào sẽ có cá, và chọn vị trí đột nhập gần với nguồn nước khi tôi chui lên, có thể tắm rửa sạch sẽ một chút.
Lần này tôi đến một tuyến cống ngầm nằm dưới đường giao thông chính. Vị trí của nắp cống khá thuận lợi và kín đáo, nằm giữa dải phân cách, có một lùm cây che khuất. Ngay cạnh đấy có một ống nhựa gắn van nước để phục vụ cho việc tưới cây. Tôi lập tức thầm khen ngợi Sở Giao thông công chính Hà Nội và gửi một lời cảm ơn gió tới họ.
Suốt chặng đường đi dưới cống ngầm tôi xác định lần này tôi sẽ bắt thật nhiều cá và để dành tiền, tập trung toàn bộ thời gian để làm việc. Không những chỉ có thế mà còn hà tằn hà tiện nữa. Giờ tôi đã thấm thía quy luật chi tiêu mà anh Lục phát hiện ra công thức tiêu tiền của người lao động là tiết kiệm. Bất kể người lao động nào trên cõi đời này đều thuộc lòng câu thần chú ấy. Tôi sẽ tiết kiệm như anh ấy nói. Quyết tâm thoát tội lớn nhất như bà chủ quán nước đã từng lên án.
Tôi đề ra và triệt để thực hiện các chỉ tiêu: Không ăn thịt kho phè phỡn. Không xơi kem Tràng Tiền, nhấm ô mai Hàng Đường, nếm món phá sang ăn vặt của mấy chú Khách. Rỗi mồm cũng không cắn hạt bí. Không được uống bia hơi Hà Nội, cấm không được mon men đến đường Hoàng Hoa Thám. Không dặt dẹo công viên, sở thú đầy thú vui cám dỗ. Cấm mọi ảo vọng Sao Khuê mà tùy tiện bước chân đến lầu Khuê Văn Các, nơi tâm hồn dễ xiêu bạt đến vùng không xác định. Khi rỗi rãi thà cứ lên giường mà ngủ, tuyệt đối không lượn lờ Hoàn Kiếm. Không cà phê cà pháo gì sất! Tốt nhất hãy kiếm việc gì đó mà làm. Không hóng gió Hồ Tây kẻo sẩy chân vào chảo bánh tôm. Không đến rạp xi-nê. Không bước chân vào Nhà hát. Không đến thưởng thức đêm nhạc của các nhạc sỹ Hà Nội viết về Hà Nội. Không mua vé đến sân khấu xem biểu diễn của các Idol. Không được hóng hớt các tụ điểm vui chơi giải trí. Không được tò mò bất cứ cái gì mà có liên quan đến tiền. Tôi sẽ thực hành tiết kiệm triệt để, đến cùng. Tôi sẽ dùng số tiền này mua lấy một công việc lao động trong biên chế nhà nước cho đỡ bị coi thường.
Tôi hùng hục đi trong đống nước cặn bã, thối hoăng với một sự ham mê đến kỳ lạ. Tôi cần đi đến Tổ cá. Tổ cá là cách gọi của tôi, kinh nghiệm khai thác cá cống của tôi, vẫn chỉ là những chiếc đập rác ngăn chặn dòng chảy, là những vật cứng, cồng kềnh không chịu cuốn trôi và chúng chặn những vật cứng khó tiêu hủy khác gây tắc nghẽn cục bộ trong đường cống. Phần rác này đóng vai trò như một tấm vải lọc nước làm cho nước chảy qua trong hơn, nước ít hơn, có nhiều ôxy hơn, dễ bắt cá hơn. Nơi đây trở thành chặng dừng nghỉ lý tưởng cho lũ cá. Tôi sẽ tóm gọn cả họ nhà chúng ở đây!
Nước trong lòng cống chảy rất chậm. Nước chảy chậm tức là tôi đang ở phía dưới đập rác. Nó có thể ở gần nhưng cũng có thể còn cách xa vị trí hiện giờ của tôi. Tôi đã xác định từ trước nên cứ bình tĩnh trườn trong lớp chất thải nổi trên bề mặt làm cho những đám bọt khí nổ bôm bốp như ngô rang. Để động viên tinh thần tôi coi nơi này, trong cống ngầm tối tăm, dơ dáy, cặn bã này hóa thành con đường giống như con đường Điện Biên Phủ rợp bóng cây mà tôi đã từng vưỡn vẹo trên chiếc xe đạp. Con đường rợp bóng cây ấy đôi đoạn làm tôi lơ đễnh, thả pê-đan, thả tâm hồn phiêu diêu trên các tán cây và suýt thì có những câu thơ để đời.
Cuối cùng thì tôi đã đi đến chỗ tắc trong lòng cống. Đoạn tắc khá dài làm tôi thêm vất vả mở một đường đột phá khẩu sát với thành cống sang phía đối diện của đập rác. Phía bên ấy mực nước thấp hơn và lũ cá cứ rúc đầu vào đấy. Chỗ tôi phá ra nước cống chảy ào ạt, cuốn theo rất nhiều rác và lũ cá trôi theo khá nhiều. Tôi bắt đầu làm việc, vừa thục tay vào sát mặt bùn gặp ngay một cái bao tải gai nằm chắn ngang và trong ấy lúc nhúc những cá. Tôi reo lên sung sướng. Ới giời ơi! Trời giúp tôi rồi! Lũ cá chạy trốn loạn xạ và thoát ra được theo một vài chỗ bao tải bị mủn. Tôi liền trải tấm lưới then ba bao vây, chặn đường rút lui của chúng nhưng cũng chỉ vợt được vài ba con. Trong khi lục lọi truy tìm lũ cá tôi phát hiện ra đây là một bao tải đựng xương động vật. Tôi mò thấy một đoạn xương ống và đoán xương của một con bê vị thành niên hay của một con lợn lai kinh tế nặng chừng hơn một tạ. Đây chắc hẳn là sản phẩm của bọn chăn nuôi thất bại. Lợn chết đem ném xuống cống. Thật là lũ bất lương!
Tôi tiếp tục tìm cá, lục tung từng cái xương đến miệng bao thì thấy miệng bao bị thắt nút. Ngay đầu núm thắt tôi sờ thấy một vật tròn, có lỗ liền móc ngón tay vào, lôi nó ra và khỏa sạch bùn để xem là cái gì. Khi soi ánh đèn vào nhìn thì, Trời ơi! Một chiếc đầu lâu còn nguyên cả hàm dưới. Đây là một người mới chết, cơ xương khớp vẫn còn nhưng đã bị lũ cá rỉa hết thịt. Hai hốc mắt đang bị hai ngón tay tôi xọc vào.
Tôi vứt tùm nó xuống dòng nước cống rồi nhảy bật về phía sau, đầu va bộp vào thành cống nhầy nhụa. Tôi cứ đứng im đó không biết bao nhiêu lâu. Sợ đến đứt tim. Tôi đoán chiếc gáo dừa kia là của đàn bà vì khi tôi đặt tay vào nó trong bao tải thì thấy có rất nhiều cái gì đó như màng sợi phủ kín. Bây giờ tôi chắc đó là mớ tóc dài vẫn chưa tiêu hủy. Nhưng cũng có thể là đàn ông vì tôi thấy cánh nhạc sỹ hay nhiều họa sỹ cũng để tóc dài. Chắc là một vụ thanh toán băng đảng hay vụ thủ tiêu nhân chứng, cũng có khi là đánh ghen… Tôi không dám nghĩ nhiều vì càng nghĩ khi chỉ có một mình trong thế giới ngầm càng làm cho tôi sợ hơn.
Ngày còn trong quân đội, thời kỳ còn huấn luyện tân binh tôi có trèo ra một mỏm đá chênh vênh thò ra của một vách núi đá vôi thuộc tỉnh Hòa Bình. Trên mỏm đá cách hơn một tầm với có một tổ chim sáo đá. Dưới mỏm đá là vực sâu. Tôi đã cố nhảy lên bám được vào miệng tổ chim và thò tay vào trong túm được ba con sáo con, nhưng lúc này tôi mới phát hiện thấy mình đang bị treo trên vách đá. Nếu tôi thả tay ra, chân không đáp trúng mỏm đá bên dưới thì coi như xong đời. Một nỗi sợ hãi ập đến hoảng loạn vô cùng. Tôi chắc mình không có vận may đáp trúng mỏm đá và biết mình sẽ chết.
Vĩnh biệt!
Ôi Tây Bắc! Ôi núi rừng trùng điệp! Vĩnh biệt tuổi trẻ. Chào nhé! Tôi đi đây!
Sau khi bái biệt cuộc sống tươi đẹp, rồi bỗng nhiên tôi cất lên tiếng hát. Tiếng hát này tự nhiên từ trong người buột ra, không có chỉ thị, không ai ra lệnh mà hoàn toàn bản năng. Tôi không hiểu làm sao nữa. Tôi hát. Giọng bừng lên. Hào hùng. Khí phách. Từng nhịp, từng nhịp rung lên như tiếng đoàn quân rầm rập tiến bước:
Vừng đông đang hửng sáng
Núi non xanh ngàn trùng xa
Tổ quốc bao la hiền hòa…
Tôi chỉ hát được ba câu trong lời bài hát mà bất cứ người lính nào cũng thuộc làu như cháo chẩy. Thế mà không hiểu sao tôi cứ hát nhay đi nhay lại đến mấy lần, chỉ có từng ấy câu rồi buông tay ra. Thế rồi hai bàn chân tôi tiếp nhẹ nhàng lên mỏm đá hệt như một chiếc trực thăng đáp nhẹ nhàng xuống nóc một cái tum cầu thang của một ngôi nhà siêu mỏng. Mồ hôi ướt đầm. Hú hồn. Suýt chết!
Tôi cứ đứng run rẩy một mình. Chiếc đèn soi cá đeo trước trán cũng rớt đi đâu mất. Mật độ tối dày đặc và ngày càng nhân lên. Khi nỗi sợ hãi của tôi leo thang đến đỉnh điểm thì bất chợt tiếng hát của tôi lại được bật lên dưới cống ngầm thành phố, giống như lần đi bắt sáo đá, cũng không có ai chỉ đạo. Tự nhiên nó thế. Không muốn nhưng nó cứ bật ra. Tôi vừa hát vừa lội ngược trở lại, cảm giác như đi dưới nước còn nhanh hơn đi trên bờ.
Suốt một thời gian dài tôi không dám nghĩ đến việc đi bắt cá cống. Đói quá thà tôi cạp vỉa hè mà ăn còn hơn là đi bắt cá. Ngay cả nghĩ đến nó tôi cũng không dám nghĩ đến nữa. Nhưng cuộc sống đâu chỉ cấm nghĩ mà no bụng được. Một con người mà không suy nghĩ chỉ có thể là những kẻ đi nhặt ống bơ lang thang. Xuân bàn với tôi, cô ấy sẽ lo cho tôi một suất đi làm công nhân nhà nước khiến cho tôi vừa sung sướng vừa cảm kích. Lẫn trong niềm vui là sự lo lắng. Tôi nghĩ Xuân tốt với tôi đến thế khiến cô ấy lao lực mất. Xuân tốn rất nhiều tiền vì điều tôi hằng ao ước, một giấc mơ được làm công nhân nhà nước. Tôi không chỉ ngầm cảm ơn suông mà cần phối hợp với cô ấy và biết mình phải làm gì, kiếm tiền ở đâu.
Tôi đã khởi động trở lại việc đi bắt cá cống. Bữa đó tôi đi sớm hơn mọi lần đúng nửa giờ, phần lo tuyến cống mới, phần vì lòng tham muốn bắt nhiều cá hơn nếu có. Tôi lật nắp cống lên rồi đi xuống. Đây là chiếc cống rộng và sâu hơn các tuyến cống tôi đã đi xuống nhưng bùn lầy nhiều, và quá nhiều chất thải đóng trong các bao tải, hoặc cành cây trôi xuống. Tôi chắc phía trên do nắp cống bị kẻ cắp thuổng về làm bậc lên xe, hoặc có đoạn thân cống nào đó bị sụt lở, và có khi bị người ta cạy nắp cống lên rồi tống chất thải xuống cũng nên. Lần này tôi di chuyển ngược theo dòng nước. Trên đường đi đụng phải rất nhiều cá nhưng không bắt được con nào và tôi chắc mẩm khi nào tới đoạn gặp vật cản chắn ngang giống như đập nước thủy điện, tôi sẽ thu hoạch được mẻ cá lớn. Tôi mò được mấy con cua và ném nó trở lại dòng nước. Việc di chuyển ngược theo dòng nước chảy khá khó khăn và rất chậm. Tôi cũng tỏ ra sốt ruột. Nếu ở tuyến cống ngầm cũ việc tóm lấy những con cá dễ dàng hơn thì ở tuyến cống mới này tôi không thể bắt chúng trong khi chúng cũng bơi theo tôi, luồn qua khe háng, trườn xuống dưới bụng. Hễ tôi thò tay định tóm lấy thì chỉ cần một cái vẫy đuôi là chúng phóng đi mất. Tôi quyết định không bắt cá dọc đường và cố gắng tiến về phía cái đập nước mà tôi tưởng tượng ra. Việc tưởng tượng hay tính toán của tôi là hoàn toàn có cơ sở vì không một tuyến cống ngầm nào mà không bị tắc, chỉ có điều nó ở gần hay ở cách xa điểm tôi xuất phát mà thôi. Thời gian trôi đi khiến tôi trở nên sốt ruột. Tôi dừng lại giữa dòng nước bẩn chiếu đèn soi về phía trước và căng tai ra nghe ngóng. Tôi quá quen thuộc tiếng động dưới đường ngầm. Mọi tiếng động ở đây được phản xạ, cộng hưởng rất khó phân biệt với những tiếng động trên mặt đất. Một tiếng cá quẫy hay một tiếng động của một vật gì đó bị tống xuống cống ngầm đều làm cho tôi không phân biệt được mà tưởng tượng ra một thế giới mới, khác hẳn thế giới trên mặt đất. Thế giới ngầm. Thế giới bóng tối, cặn bã. Một thế giới luôn tồn tại song hành với thế giới ánh sáng. Điều đó làm cho tôi sợ. Một mình ở trong lòng cống tối om tôi phải tự quyết định lấy. Hoặc là vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua cái hố vực sâu thẳm của lòng mình để tồn tại. Tuyệt đối không được nghĩ đến những xác chết phi tang dưới đường cống.
Trong ánh đèn chiếu, tôi phát hiện có vật gì đó đang trôi xuống, đến gần thì hóa ra là một cái thùng xốp màu trắng nhưng bị nước cống nhuốm đen hết phần thân. Chiếc thùng có nắp đậy và cột băng dính cho khỏi bật nắp. Tôi đoán đây có thể là một thùng hàng bị rơi và bị cuốn trôi xuống cống, cũng có thể là thùng tang vật bị kẻ gian thủ tiêu. Tôi gặp rất nhiều thùng xốp dưới đường cống ngầm nhưng chưa gặp chiếc thùng nào còn nguyên đai thế này. Có chút mừng thầm. Hôm nay là ngày đại cát, âm – dương hòa hợp. Tâm trạng phấn khởi và cầu mong điều thần kỳ xảy ra là tôi vớ được một thùng đầy hàng hóa, thậm chí lúc ấy tôi còn ước vớ được một thùng xốp đầy tiền Việt Nam đồng.
Tôi kéo chiếc thùng lại gần rồi nâng lên ước lượng. Nó khá nặng. Tôi ngắm nghía lại mặt ngoài một lần nữa trước khi dùng tay bóc băng keo roàn roạt. Hôm nay tôi đã gặp may mắn. Tuyến cống mới, rộng và sâu, có nhiều cá và Trời thương kẻ khó ban tặng cho tôi thêm một thùng hàng nguyên kiện. Hàng gì đây? Tôi hồi hộp mở nắp thấy lớp vải màn phía trên. Tôi vẩy hết nước bẩn bám vào tay và nhấc lần vải phủ, chiếu đèn thì, Trời ơi! A di đà Phật! Ôi Chúa ơi! Tôi hoảng sợ vung mạnh hai cánh tay vứt bỏ nắp thùng và cả tấm vải màn kia. Một hài nhi sơ sinh đã tím tái và có rất nhiều kiến bò trên mặt đứa trẻ. Tôi nhảy giật lùi lại phía sau khiến đầu và lưng đập mạnh vào thành cống nhớp nháp. Chiếc thùng xốp như lưỡng lự, dừng lại giữa dòng nước đen ngòm một thoáng rồi từ từ trôi xuôi.
Hồn vía tôi lúc ấy bay sạch. Thân xác cứng đơ. Tim nảy lên, đập loạn xạ nhưng lòng thì dấy lên sự căm hờn. Tiếng thét hờn căm vang lên trong lòng cống tối tăm, tuyệt vọng. Tiếng vọng như đoạn điệp khúc của một bài ca buồn tủi, uất hận vô cùng. Chiếc thùng quẩn theo quanh người tôi một vòng rồi nhập nhềnh đưa em trôi đi. Tôi lội đuổi theo và giữ nó lại. Em đừng đi. Hãy ở lại với anh thêm một lúc nữa. Phải giữ bình tĩnh và thật tỉnh táo. Tôi nghĩ như vậy. Trong đầu rộn lên rất nhiều câu hỏi rồi tự trả lời. Em là ai? Em đã gây nên tội lỗi gì mà phải chịu hình phạt nặng nề này? Không! Em chỉ vừa mới được sinh ra và có thể do em được sinh ra đã ảnh hưởng quyền lợi của kẻ khác nên nó mới thủ tiêu em theo cách này. Chúa ơi! Đức Phật ơi! Các ngài đang chơi golf ma ở sân golf nào? Chắc chắn các ngài đã biết sự việc, rồi sai tôi cứu lấy phần xác em để đem lên mặt đất. Phải thế chứ? Tôi cũng thấy vui vui vì phần hồn của em chắc đã được các ngài cứu rỗi rồi.
Tôi ngắm nhìn gương mặt tím tái, hai mắt nhắm nghiền. Em chưa kịp nhìn thấy ánh dương đúng không? Ánh mặt trời đẹp lắm em ạ, nhất là khi nó khúc xạ phản chiếu trên bầu trời. Em chưa kịp nhìn ánh bình minh chiếu trên những hạt sương long lanh bị làn gió nhẹ sớm mai đưa đẩy làm chúng khẽ yểu điệu, làm dáng. Nó mới đẹp làm sao. Nó sẽ làm cho tinh thần em tỉnh táo, xáo động sau một đêm dài đầy mộng mị. Lúc ánh dương chiều tà cũng làm cho tâm trạng mệt mỏi của em xúc động, và thoáng buồn. Nó giống như buổi chia ly ngắn ngủi của hai người đang yêu nhau, chia tay để hẹn gặp lại chỉ ngay ngày hôm sau thế mà như đã ngàn năm cách mặt. Nhớ nhung khôn tả. Tất cả mới đẹp làm sao. Em ơi! Anh chỉ biết có chừng đó thôi. Em chỉ được nhìn thấy ánh sáng, chưa kịp nhận ra khuôn mặt của mẹ em thì đã bị bà ấy đóng gói và chuyển phát nhanh tới đây để anh được gặp em dưới gầm trời này. Dưới cống ngầm đen tối này chỉ có anh và em. Em không thể chết ngấm chết ngầm thế này được. Đời có nhiều đứa con bất hiếu nhưng cũng không ít đứa mẹ khốn nạn. Quyền được sống của em cũng như người sinh ra em là ngang nhau, cớ sao người mẹ khốn nạn này lại tiêu hủy cuộc sống của con mình? Người mẹ này hẳn không có tính người, không có tình yêu thương con người, bất đắc dĩ mà sinh em ra rồi phải thủ tiêu em dưới địa ngục này.
Hãy nói một lời nào đó đi em. Những người mẹ đã được tòa thành của sự biết ơn nuông chiều, đẩy sự sinh nở tự nhiên kia, coi là thứ công lao không chạm tới được. Bất nhân và tàn nhẫn thế mà em vẫn im lặng, buông tha cho kẻ giết người này, cũng là cách để em trả ơn đấng sinh thành như mọi người vẫn thường hay nhắc đến? Như vậy có khác nào nạn nhân phải cảm ơn bạo chúa sao? Em còn nhỏ quá chưa biết hết sự đời đấy thôi. Đó là lòng biết ơn cưỡng bức và đầy độc hại. Thôi, cho phép anh thay mặt nói vài lời lặng thầm những suy nghĩ không tiện nói ra của lòng em, trong cống ngầm này, thế giới ngầm này, không một ai thấy, không một ai nghe. Muốn lấy công đẻ thì hãy hỏi bản thân mình, hãy chuẩn bị thật tốt trước khi em được sinh ra tương tự như đã tham khảo ý kiến của em vậy, dặn các bậc làm cha mẹ mỗi khi sinh hoạt tình dục nhớ mặc áo mưa do tổ chức NGO tài trợ nhé! Đừng vì một phút ham vui mà gây ra hậu quả nghiêm trọng. Đừng có mà lấy công đẻ để biện hộ đấy! Công bằng heng? Bây giờ, em hãy ở đây đợi anh. Anh còn phải đi bắt cá. Không bắt cá tức là anh tự vô trách nhiệm với chính bản thân mình. Chờ anh. Đừng có mà đi đâu đấy!
Tôi lấy chân quờ quạng, khua khoắng và vớt lên một đoạn cành cây, cắm xuống bùn, dựa đầu cành cây vào tường cống. Không có cái gì để buộc, tôi đành lấy tạm dây rốn của em cột lại cho khỏi bị nước cuốn trôi đi.
Tôi tiếp tục tiến lên, lội được một đoạn thì gặp Tổ cá. Tôi bắt được rất nhiều, lèn chặt bao mà vẫn còn cá. Đúng là một ngày may mắn. Tôi đánh giá sự may mắn này chắc là do em xua lũ cá đến để cho tôi bắt. Đang chuẩn bị trở lui thì bỗng tôi nghe “bục” như tiếng vỡ đê sông Hồng hồi năm 1971. Đập rác vỡ toác, cuốn phăng. Một khối lượng nước khổng lồ ập xuống lôi tôi đi chẳng khác gì một cọng rơm.
Tôi không thể nào chống cự với sức nước cuốn khủng khiếp và tôi hiện cũng đang trở thành một thứ rác thải, trộn lẫn, va đập, nhào lộn, nhấp nhô chìm nổi, lộn xộn mất trật tự trong lòng cống. Trong lúc trôi, tôi còn nhìn thấy chiếc thang đang giẹo giọ trong làn nước chảy. Trong ánh điện chiếu xuống nắp cống tôi thấy nước trên vỉa hè tuôn xuống ào ạt. Thì ra trên ấy đang có một trận mưa lớn. Tôi không thể trách mình được. Lần nào đi xuống cống ngầm tôi cũng nghe dự báo thời tiết Thủ đô. Chiều qua tôi còn nghe đài phát thanh Hà Nội báo đêm không mưa, ngày nắng, gió nhẹ cơ mà. Trôi được một đoạn thì nước đỡ chảy xiết hơn nhưng mực nước dâng lên rất nhanh. Tôi bám được vào một họng nước và cố nhoi lên bám được vào thanh chắn rác. Nước mưa xối xả chảy qua thanh chắn. Có những lúc nước trong lòng cống ngầm dềnh lên, tràn ngược lên cả lòng đường. Trong cơn hoảng loạn tôi cố gắng đẩy bật thanh chắn nhưng nó được chèn rất chắc bằng bê tông chống trộm. Lúc này tôi đã nghĩ đến cái chết do đuối nước và hoàn toàn không nghĩ gì đến chiếc thùng xốp có hài nhi nằm trong đó. Em ơi, trận mưa lớn sẽ đưa em ra khỏi cống ngầm này. Em nổi nênh, bồng bềnh ở một họng thoát sông hay cái hồ nào đó, cũng có khi nó đẩy em ra tận sông Hồng. Rồi người ta sẽ vớt em lên, em lại về với đất. Anh chắc mãi nằm lại nơi địa ngục này thôi.
Vĩnh biệt!
Nếu mưa không tạnh, anh sẽ bị nhấn chìm trong lòng cống ngầm thành phố. Vài ba ngày hôm sau, người anh sẽ trương phềnh, nổi lên, bập bềnh trên dòng nước thối tha đầy ruồi nhặng và giòi bọ lúc nhúc. Lũ cá bâu lại thi nhau đớp, rỉa thịt đến tan tành anh ra. Chúng sẽ chém đứt hết dây chằng. Các khớp sụn cũng bị những con cá quả với hàm răng sắc gặm nhấm từng chút, từng chút làm cho xương cốt anh rời ra từng thứ một mà chìm xuống đất đen.
Mỗi lần nước dềnh lên nhấn chìm tôi trong dòng nước bẩn thì trong đầu tôi chỉ còn ý nghĩ vĩnh biệt. Rất may trận mưa cũng ngớt. Nước trong lòng cống cũng rút đi.
Tôi nằm vừa khít trong họng thoát nước cố hướng mắt qua khe chắn rác. Ánh đèn điện cô đơn trong đêm. Gió khuya lạnh lùng luồn qua khe chắn rác như những ngón tay thần chết vuốt lên mái tóc ướt nhèm và nhầy nhụa rồi chán nản bỏ đi.
Nước vẫn còn ri rỉ chảy và tôi tự thấy mình như một con chuột cống hạng nặng. Sống. Sống rồi! Nhưng là thứ sống sót. Nó chả có ý nghĩa gì cả. Người tôi rã rời, chán nản vô cùng. Trong người ngập tràn thứ cảm xúc lộn ngược của sự sống, trạng thái không trọng lượng, không suy nghĩ, mất hoàn toàn năng lượng, hoàn toàn ngộ không. Tôi nhớ lại lần đi bắt sáo đá, nhớ lại lần đi bắt cá cống cách đây không lâu, trong tột cùng sợ hãi tôi đều cất lên tiếng hát. Tiếng hát của định mệnh không một ai xui khiến. Tiếng hát của bản năng sinh tồn và sự màu nhiệm đã xảy ra. Lần này, sự hiểm nguy gia tăng, cách biệt với sự sợ hãi nhưng không hiểu sao tôi lại không hát? Tôi cố gắng kiểm soát dòng suy nghĩ lộn xộn trong đầu. Có thể chỉ trong cơn tuyệt vọng con người sẽ được đấng tối cao cứu giúp chăng? Lần này tôi đã mất khả năng thần diệu ấy. Vậy tôi cần phải làm cái gì đó cho mình. Chẳng có ai cứu mình bằng bản năng sinh tồn của mình cả.
Vận may thường đến bất chợt và vô tình không phải mọi lúc, chẳng hề thương hại hay cố tình giúp đỡ một ai cả. Tôi nhận ra sự kiệt cùng của sự ngẫu nhiên thế là tôi chủ động cất lên tiếng hát. Mình phải biết chủ động, đừng để cho bên ngoài phát động, như thế có khác gì cái đầu máy đi-ê-zen! Tôi sẽ hát. Ban đầu khe khẽ, sau đó gào lên trong lòng cống. Tôi hát để củng cố lòng tin, nạp lại cho kỳ căng tràn năng lượng. Lần hát này là có chỉ đạo. Tôi sẽ hát một bài hát khác, làm mới một bài hát đã cũ và tôi đã lấy lại toàn bộ năng lượng đã mất.
Đời mình là một khúc quân hành
Đời mình là bài ca chiến sĩ
Ta ca vang, triền miên qua tháng ngày,
Lượn bay trên núi rừng, biên cương đến nơi đảo xa…
Mãi mãi lòng chúng ta
Ca bài ca người lính.
Mãi mãi lòng chúng ta
Vẫn hát khúc quân hành ca…
Đường ngầm và ánh sáng
Thật khiếm khuyết khi không kể câu chuyện này. Bắt cá cống cũng là một nghề. Giá như nó được khai thác một cách có tổ chức thì sẽ không lãng phí lượng tài nguyên khổng lồ, và phơi bày thế giới bí mật, cặn bã, đen tối. Nghề bắt cá cống hết sức đặc biệt và cực kỳ nguy hiểm mà đáng lý ra nó phải được kể xen kẽ giữa những chương truyện, dòng văn chương thực dụng ở trong cuốn tiểu thuyết này, nhưng rồi nó được thiết kế riêng để cho độc giả dễ theo dõi, còn bởi nó là câu chuyện tôi muốn giấu đi, thật sự không muốn kể ra một tí tẹo nào. Tôi không hề kể cho Xuân nghe vì thế nào cô ấy cũng tức giận rồi rủa sao anh không chết đi! Cho dù Xuân có rủa, tôi vẫn thích nghe vì chẳng qua cô ấy thương tôi. Tôi cũng không đời nào kể cho anh Thắm nghe, nghe xong kiểu gì anh ấy cũng lạnh lùng nói: Đáng đời! Tôi không kể với Mai vì lối tư duy của chị chăn như là sự tất yếu phải thế. Còn anh Phú, chắc người em rể này sẽ giãy nảy lên – “Đấy! Anh không chịu nghe lời tôi. Khổ không cơ chứ!”
Nhưng có một người tôi nhiệt tình kể. Kể hết. Thoải mái kể. Chị Quế lắng nghe tôi, không cắt ngang. Chị thấu hiểu và thấu cảm mọi chuyện có trên đời này. Chị nhìn vào khoảng không, qua cửa sổ. Ánh sáng chiếu qua, dưới mi hiện lên hai bể khổ, tròn, lăn dài, lăn mãi. Tôi đang gối đầu lên đùi chị mà ngước nhìn, và hòa theo từng nhịp cảm run rẩy. Tôi ngưỡng mộ chị bởi những cuốn sách mà chị đưa cho tôi đọc đã làm nên cốt cách chị, cốt cách, tinh hoa của người Hà Nội mà nền tảng vững chắc là tri thức, là giá trị của sự hiểu hết.
Tôi đã nghiền ngẫm kỹ lưỡng thuyết Đường ngầm và Ánh sáng; thuyết Ngai vàng và Đường phố. Khi nghiên cứu học thuyết Âm Dương và thấy rằng có một số điểm trong lý thuyết này không thể phù hợp. Tôi cũng nghiên cứu rất kỹ thuyết Hiện vật và thử moi ruột quy luật các mặt đối lập để xem xét thì thấy rằng hiển nhiên đối lập với tốt là xấu, nhưng trong tốt có xấu thì tôi không thừa nhận. Ngưu không bao giờ tầm mã. Bóng đen đi liền với bóng đêm. Ánh dương rạng ngời cùng ánh sáng. Tốt là tốt. Có thế thôi! Các ngài nói sao chứ trong tốt có xấu thì đâu còn là tốt nữa!
Và, bây giờ tôi đang là một phần của cái gọi là “học thuyết” Thành phố trong nông thôn của anh Hồng, dù ở đâu, dưới đường ngầm hay ánh sáng thì cầu cho lòng tốt mỗi thời luôn luôn được cover như giám đốc Lục mong muốn. Và một điều quan trọng khác là tôi tự tẩy não, thấy mình lớn lên. Có tuổi trẻ và sự khao khát mãnh liệt. Tự thay đổi mình không ngồi khóc lóc, thở than. Không có ông Bụt nào đến cứu mình cả. Nó chỉ có trong cổ tích mà thôi.





